Thứ năm 02/07/2026 00:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc

Sáng 10/12, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, với đại đa số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Theo đó, Luật đã quy định rõ về nhà giáo, vị trí pháp lý của các cơ sở giáo dục, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo, hệ thống văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và đặc biệt là thống nhất sử dụng một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông trên toàn quốc.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc
Toàn cảnh phiên họp tại hội trường sáng 10/12

Tại kỳ họp này, Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đã nhận được 75 ý kiến góp ý tại phiên thảo luận tổ ngày 22/10 và 16 lượt ý kiến góp ý tại hội trường ngày 20/ 11 cùng 02 ý kiến bằng văn bản. Các ý kiến đã được Chính phủ tiếp thu tối đa, giải trình đầy đủ.

Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục trình Quốc hội biểu quyết thông qua gồm 2 điều, đã được tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện. Kết quả, với 437/445 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 92,39%, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 2 của luật.

Trước đó, các đại biểu Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Theo đó, dự thảo được rà soát toàn diện, bảo đảm phù hợp với đường lối của Đảng về phân cấp, phân quyền, về chính sách dân tộc và đồng bộ với các luật liên quan như Luật Nhà giáo, Luật Viên chức, Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Đầu tư cũng như nhiều dự thảo luật chuyên ngành đang được sửa đổi bổ sung cùng thời điểm, qua đó xác lập rõ phạm vi điều chỉnh và tăng tính thống nhất của hệ thống pháp luật liên quan đến giáo dục.

Làm rõ vị trí pháp lý của “trung học nghề” thuộc giáo dục nghề nghiệp và quy định chi tiết về phân luồng

Dự thảo Luật đã chỉnh lý, làm rõ vị trí pháp lý của “trung học nghề” thuộc giáo dục nghề nghiệp, theo đó “Giáo dục nghề nghiệp gồm sơ cấp, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề khác” (điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 6); xác định rõ “giáo dục trung học nghề cùng cấp học với giáo dục trung học phổ thông” góp phần nâng cao hiệu quả phân luồng học sinh, tăng liên thông giữa giáo dục trung học phổ thông với đào tạo nghề, làm rõ giá trị pháp lý của bằng trung học nghề, quyền học liên thông cao hơn thông qua việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 38 “Đào tạo trình độ đại học dành cho người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên”.

Dự thảo chỉnh lý quy định tại khoản 2 Điều 9 về phân luồng thể hiện rõ việc tạo điều kiện để học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông, trung học nghề và tương đương tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực, sở trường, năng khiếu, điều kiện của cá nhân và nhu cầu của xã hội. Đồng thời Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo căn cứ thẩm quyền được giao nghiên cứu xây dựng phương án bảo đảm quyền lợi chính đáng của người học và bảo đảm chất lượng giáo dục tại Thông tư của Bộ trưởng quy định chi tiết về phân luồng và liên thông cũng như quy định về tuyển sinh.

Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp sáng 10/12

Thống nhất, liên thông về văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý thống nhất quy định không cấp bằng trung học cơ sở, thay bằng cụm từ “hoàn thành chương trình trung học cơ sở hoặc tương đương” trong toàn bộ dự thảo Luật. Đồng thời, dự thảo quy định văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng bản giấy hoặc bản số, nhằm thúc đẩy triển khai các chủ trương về chuyển đổi số trong giáo dục.

Bên cạnh đó, dự thảo chuẩn hóa thuật ngữ “văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù” thay cho “văn bằng tương đương”, phản ánh đúng bản chất các văn bằng như bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư; bảo đảm thống nhất với dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và tiệm cận thông lệ quốc tế. Dự thảo cũng quy định rõ Bộ trưởng Bộ GDĐT quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân để bảo đảm linh hoạt, kịp thời điều chỉnh theo yêu cầu thực tiễn, đồng thời giữ tính thống nhất, liên thông và minh bạch của hệ thống.

Đối với các chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học thuộc lĩnh vực sức khỏe cấp văn bằng như bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa, việc hướng dẫn tổ chức thực hiện và quản lý do Bộ Y tế thực hiện theo quy định tại dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi).

Ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo

Chính phủ đã tiếp thu ý kiến thẩm tra và ý kiến các vị ĐBQH để chỉnh lý quy định về ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát trong cơ sở giáo dục; đồng thời làm rõ yêu cầu ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo bảo đảm phù hợp với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ quy định chi tiết tại Nghị định các nội dung về chuyển đổi số trong giáo dục, gồm phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu mở, công nghệ giáo dục, sách giáo khoa điện tử, học liệu số, nền tảng học tập trực tuyến; đồng thời quy định rõ nguyên tắc an toàn, bảo mật thông tin và yêu cầu tuân thủ hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Cách tiếp cận này bảo đảm đồng bộ với pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và chuyển đổi số, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho đổi mới giáo dục dựa trên công nghệ hiện đại.

Học sinh có thể được học vượt lớp, học ở tuổi cao hơn hoặc thấp hơn quy định

Chính phủ đã tiếp thu ý kiến thẩm tra và ý kiến các vị ĐBQH, bổ sung quy định về việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa giáo dục phổ thông trong chương trình đào tạo một số ngành, nghề đặc thù, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn (nhất là lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao).

Đồng thời, dự thảo bãi bỏ khoản 2 Điều 28 và giao Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định các trường hợp học sinh được học vượt lớp, học ở độ tuổi cao hơn hoặc thấp hơn tuổi quy định tại khoản 1, qua đó tăng tính linh hoạt, phù hợp điều kiện và năng lực đa dạng của học sinh, đặc biệt với học sinh dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh đặc thù, hoặc có năng khiếu, tố chất nổi trội; phù hợp định hướng phát triển nhân tài và xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, hiện đại.

Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc

Chính phủ đã tiếp thu ý kiến thẩm tra và các vị ĐBQH để chỉnh lý Dự thảo theo hướng quy định Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc nhằm bảo đảm cho phép Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn phương án biên soạn một bộ sách mới hoặc lựa chọn, chỉnh lý từ các bộ sách hiện hành, tùy thuộc vào tình hình thực tiễn và quyết định của cấp có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, dự thảo tiếp tục giao Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa cho học sinh; đồng thời, bỏ quy định “giao Chính phủ quy định chi tiết về xã hội hóa sách giáo khoa”. Trong bối cảnh hiện nay, chưa đủ điều kiện để luật hóa ngay phương án bộ sách thống nhất do Nhà nước trực tiếp biên soạn hay thực hiện theo cơ chế xã hội hóa, vì phương án cụ thể vẫn đang được cấp có thẩm quyền xem xét.Ngoài ra, quy định theo hướng mở như dự thảo giúp bảo đảm tính ổn định của Luật, tránh tạo ràng buộc cứng khi chủ trương còn trong quá trình nghiên cứu, đánh giá tác động. Riêng việc xã hội hóa, bao gồm việc tổ chức, cá nhân cho, tặng sách giáo khoa giáo dục phổ thông, tiếp tục thực hiện theo Điều 16 Luật Giáo dục hiện hành và các quy định pháp luật có liên quan.

Quy định rõ về nhà giáo và các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục

Dự thảo Luật chỉnh lý khoản 2 Điều 66 theo hướng quy định nhà giáo đồng cơ hữu tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học để phù hợp với đặc thù và yêu cầu thực tiễn của từng trình độ đào tạo và loại hình cơ sở giáo dục.

Dự thảo cũng bổ sung nhóm “nhân sự khác” theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học, bên cạnh “nhân sự hỗ trợ giáo dục”, nhằm bao quát đầy đủ các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục, kể cả nhân sự ngoài cơ sở giáo dục. Trong đó có “người dạy nghề” thực hiện giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã theo chương trình giáo dục nghề nghiệp (theo dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi), khác với nhân sự hỗ trợ giáo dục là nhóm không trực tiếp tham gia giảng dạy.

Việc quy định nhóm này ngay trong Luật Giáo dục (với vai trò luật khung) là cần thiết để tạo cơ sở pháp lý xác định tiêu chuẩn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các luật trong lĩnh vực giáo dục.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý kỹ thuật lập pháp toàn văn dự thảo, bảo đảm cách dùng từ, phạm vi điều chỉnh và nội dung quy định được thể hiện thống nhất, minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế tối đa cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Đồng thời, các quy định đã được rà soát để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của văn bản Luật sau khi hợp nhất; đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, tránh khoảng trống pháp lý và bảo đảm việc chuyển tiếp được thực hiện thuận lợi./.

Thu Quỳnh - Vũ Hiếu - Cao Hoàng

Nguồn: Quochoi.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.

Theo dõi chúng tôi trên: