Thứ tư 01/07/2026 22:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng: Tiếp thu nghiêm túc các góp ý để hoàn thiện tốt nhất 3 dự án luật về hộ tịch, công chứng, trợ giúp pháp lý

Cuối phiên thảo luận tại hội trường sáng ngày 11/4, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình trước Quốc hội một số nội dung các đại biểu quan tâm về 03 dự án luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, gồm: Luật Hộ tịch (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Bộ trưởng khẳng định, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc các ý kiến đóng góp để hoàn thiện các dự án luật với chất lượng tốt nhất trước khi trình Quốc hội thông qua.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng: Tiếp thu nghiêm túc các góp ý để hoàn thiện tốt nhất 3 dự án luật về hộ tịch, công chứng, trợ giúp pháp lý
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng giải trình một số nội dung đại biểu quan tâm về 03 dự án luật. Ảnh: quochoi.vn

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng ghi nhận nhiều ý kiến đại biểu quan tâm đến 4 nội dung lớn. Cụ thể:

Một là, về phạm vi các giao dịch bắt buộc phải công chứng (Điều 3), Bộ trưởng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ nghiên cứu tiếp thu để làm rõ hơn các tiêu chí, tránh sự chồng chéo giữa Luật Công chứng và các luật chuyên ngành. Bộ trưởng cho biết, thực tế, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng đã thực hiện bước cải cách lớn khi giảm từ 22 loại giao dịch bắt buộc phải công chứng xuống còn 16 loại. Quan điểm của Chính phủ là Luật chỉ quy định những giao dịch mang tính chất quan trọng, đòi hỏi độ an toàn pháp lý cao, còn lại được thực hiện theo quy định của các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản.

Hai là, về thẩm quyền công chứng giao dịch bất động sản theo địa hạt (Điều 44), Bộ trưởng giải trình, trong điều kiện cơ sở dữ liệu công chứng tập trung thống nhất toàn quốc đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, việc bỏ ngay quy định này là chưa khả thi và tiềm ẩn rủi ro lớn. Quy định địa hạt giúp công chứng viên kiểm tra tốt nhất tình trạng thực tế của tài sản và xác thực nhân thân các bên tại địa phương, ngăn chặn gian lận. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế tại các nước theo hệ thống công chứng La-tinh như Pháp, Đức, Tây Ban Nha vẫn quy định rất chặt chẽ việc quản lý theo địa hạt để bảo đảm an toàn pháp lý tuyệt đối cho quyền sở hữu bất động sản. Đồng thời, chúng ta sẽ từng bước tạo lập lộ trình để tiến tới thực hiện một cách minh bạch cùng với việc xây dựng cơ sở dữ liệu về công chứng trên toàn quốc tập trung thống nhất, khi đó sẽ bãi bỏ nội dung này và giao Chính phủ quyết định.

Ba là, về băn khoăn có bắt buộc công chứng hợp đồng đặt cọc hay không, Bộ trưởng cho biết, Điều 44 chỉ quy định về thẩm quyền địa hạt đối với loại giao dịch này mà không có nghĩa bắt buộc tất cả các loại đặt cọc đều phải công chứng. Việc bắt buộc hay không tuân thủ theo tiêu chí tại Điều 3 và các luật chuyên ngành liên quan.

Bốn là, về công chứng ngoài trụ sở và công chứng điện tử, Bộ trưởng thông tin, quy định về công chứng ngoài trụ sở hiện nay (Điều 46) đã bao quát tương đối đầy đủ các trường hợp cần thiết như người già yếu, người đang điều trị nội trú, người bị tạm giữ, tạm giam. Đối với công chứng điện tử từ xa, đây là nội dung mới đã được ghi nhận trong Luật Công chứng năm 2024. Tuy nhiên, kinh nghiệm thế giới cho thấy cần thực hiện thận trọng từng bước, phù hợp với hạ tầng công nghệ để tránh rủi ro giả mạo.

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Đối với dự án Luật này, nội dung được nhiều đại biểu quan tâm nhất là việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý. Bộ trưởng nêu rõ, so với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, dự thảo Luật lần này đã mở rộng đáng kể từ 07 nhóm lên 11 nhóm đối tượng yếu thế.

Về đề xuất của đại biểu tiếp tục mở rộng hơn nữa đối tượng được trợ giúp pháp lý, Bộ trưởng nêu quan điểm hoàn toàn nhất trí về tính nhân văn và sự cần thiết của chính sách này. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng giải trình, trợ giúp pháp lý là dịch vụ miễn phí do Nhà nước chi trả kinh phí. Do đó, việc mở rộng đối tượng đến đâu phải phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để bảo đảm tính khả thi, tránh việc quy định rộng nhưng không đủ nguồn lực thực hiện dẫn đến chính sách bị treo.

Về dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi)

Bộ trưởng giải trình 03 nhóm vấn đề chính. Cụ thể:

Đối với việc ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã giải quyết tại cơ quan thẩm quyền nước ngoài, đặc biệt là các trường hợp có sự xung đột pháp luật (ví dụ như hôn nhân đồng giới được nước ngoài công nhận nhưng Việt Nam chưa quy định), Bộ trưởng nhấn mạnh nguyên tắc, Luật Hộ tịch là luật về hình thức, thủ tục; việc công nhận hay không phải theo luật nội dung (như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Quốc tịch), nếu luật nội dung chưa công nhận thì không có cơ sở để ghi vào sổ hộ tịch.

Về thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch và vấn đề ủy quyền, Bộ trưởng cho biết, theo dự thảo Luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cấp xã có thể ủy quyền cho công chức tư pháp - hộ tịch ký các loại giấy tờ, trừ Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn và Giấy chứng tử. Vì, những giấy tờ này mang tính chất “gốc”, quan trọng nhất đời người, cần sự trang trọng và trách nhiệm cao nhất của người đứng đầu chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đại biểu về tính cấp bách của Giấy chứng tử (phục vụ tang lễ), Bộ trưởng cho biết sẽ báo cáo Chính phủ nghiên cứu theo hướng có thể cho phép ủy quyền đối với riêng Giấy chứng tử để bảo đảm linh hoạt. Đối với Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cấp xã, việc ký thay khi Chủ tịch đi vắng là việc điều hành bình thường, không thuộc phạm vi ủy quyền.

Đối với thông tin “Quê quán” và tích hợp dữ liệu, Bộ trưởng ghi nhận các ý kiến về việc xác định quê quán sao cho thống nhất, tránh tình trạng mỗi thành viên trong gia đình một quê quán khác nhau. Đồng thời, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Công an để rà soát, bảo đảm sự tương thích, liên thông tuyệt đối giữa dữ liệu hộ tịch và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID).

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.

Theo dõi chúng tôi trên: