Thứ tư 01/07/2026 23:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cắt giảm tối đa danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện trên cơ sở ý kiến các đại biểu

Cho ý kiến tại Tổ về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Bộ Tài chính đang cố gắng làm sao thu hẹp mức tối đa danh mục các dự án chấp thuận chủ trương đầu tư. Nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư cũng rút giảm để đảm bảo rất thiết yếu, rất cơ bản, rất ngắn gọn. Cùng với đó tiếp tục rà soát, cắt giảm tối đa các danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện - vấn đề dư luận, người dân xưa nay vốn rất quan tâm.
Cắt giảm tối đa danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện trên cơ sở ý kiến các đại biểu

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 11. Ảnh Lâm Hiển.

Chiều 11/11, tiếp tục Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội thảo luận tại Tổ về: dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) và dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi).

Thảo luận về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội tại Tổ 11 gồm Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ và Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên bày tỏ nhất trí cao đối với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Đầu tư hiện hành nhằm giải quyết các vướng mắc cấp bách; đồng thời đề nghị làm rõ thêm nhiều nội dung để tăng cường hiệu quả thu hút đầu tư.

Phải giảm tối đa danh mục dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư

Liên quan đến Điều 25 về các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư. Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá rất cao cơ quan soạn thảo đã mạnh dạn lược bỏ rất nhiều các đối tượng, các dự án không cần phải thông qua bước chấp thuận chủ trương đầu tư. Khi bỏ bước này thì quy trình, thủ tục đầu tư cũng được rút ngắn rất nhiều.

Tuy nhiên, việc lược bỏ này được cơ quan soạn thảo tiến hành bằng cách chỉ đưa ra một số trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư. Cơ bản thống nhất cách quy định này, song đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng cũng đề nghị rà soát thêm trong số các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư ở đây có thể tiếp tục rút gọn không?

Nêu quan điểm cá nhân, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, có hai nhóm bắt buộc phải có thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư trong quá trình triển khai dự án gồm: nhóm các dự án liên quan đến các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh ở biên giới hay khu vực có thể gây ra những tác động đến an ninh quốc phòng; nhóm dự án áp dụng các cơ chế đặc thù khác với quy định của luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ngoài 2 nhóm trên, đại biểu đề nghị cân nhắc thêm để có thể thu hẹp tối đa các loại dự án không cần phải thêm bước chấp thuận chủ trương đầu tư. Theo đại biểu, thực tế đã có một số dự án đầu tư lớn, chỉ có một số nhà đầu tư lớn trên thế giới có thể thực hiện được nhưng khi vào Việt Nam lại vướng nhiều thủ tục, trong đó có thủ tục liên quan đến chấp thuận chủ trương đầu tư phải mất rất nhiều thời gian, điều này khiến họ đã chọn một quốc gia khác để đầu tư.

Về nội dung trên, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội để "thu hẹp, làm rõ các dự án phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư", bao gồm các dự án hạ tầng quan trọng (cảng biển, sân bay, viễn thông, xuất bản, báo chí…), các dự án đề xuất sử dụng đất đai khu vực biển, hoặc các dự án ảnh hưởng lớn về môi trường hoặc thực hiện ở những khu vực nhạy cảm về quốc phòng an ninh.

Về nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư, Bộ Tài chính đang quyết liệt "rút giảm các nội dung", bảo đảm chỉ giữ lại những thông tin "rất thiết yếu, rất cơ bản, rất ngắn gọn" như quy mô, mục tiêu, địa điểm và tiến độ, thời hạn thực hiện dự án. Tức là những yếu tố rõ ràng cần phải có, cần phải biết.

Về quan điểm chung, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh "phải giảm tối đa danh mục dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Những gì thật cần thiết mới quy định, còn lại là bỏ tối đa"; đồng thời cam kết sẽ tiếp tục rà soát trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội phát biểu thảo luận tại các Tổ để tiếp tục giảm cả về số lượng các ngành nghề, lĩnh vực và về nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư.

Nhà nước cần tập trung cho hậu kiểm

Về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quy định tại Điều 7 của dự thảo luật, Đại biểu Nguyễn Văn Quân, Đoàn ĐBQH Thành phố Cần Thơ đề nghị nên thiết kế theo hướng công bố điều kiện kinh doanh, hoặc nghị định phải cụ thể vấn đề này, tức là Nhà nước, Chính phủ công bố điều kiện kinh doanh, điều kiện đầu tư để doanh nghiệp chỉ cần đăng ký và có cam kết gửi cơ quan có thẩm quyền là đủ, không phải xin phép, cấp phép.

Ưu điểm của việc này, theo đại biểu phân tích, trước hết là bỏ được cơ chế xin cho; tăng trách nhiệm của doanh nghiệp vì khi công bố điều kiện đầu tư, kinh doanh rồi doanh nghiệp mới căn cứ vào điều kiện, nếu đáp ứng đủ điều kiện thì chỉ cần đăng ký và công bố là xong; tránh tình trạng nhũng nhiễu; giảm bớt thủ tục hành chính; giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp, tổ chức cá nhân.

Cùng với đó, đại biểu cũng đề nghị phải tăng cường hậu kiểm của các cơ quan chuyên môn, các cơ quan quản lý nhà nước. Thực tế vừa qua, thủ tục cấp giấy đủ điều kiện kinh doanh mất rất nhiều thời gian. Đầu vào cấp thủ tục rất chặt. Nhưng trong quá trình sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp không chấp hành và không thực hiện theo giấy phép, không làm đúng tiêu chuẩn, tiêu chí mà giấy chứng nhận đủ điều kiện đã cấp. Vai trò hậu kiểm ở một số lĩnh vực vừa qua còn yếu. "Do đó tôi mong Luật thiết kế theo hướng tăng cường hậu kiểm. Hậu kiểm là tối ưu, là hiệu quả nhất. Doanh nghiệp chỉ cần thông báo đáp ứng và cam kết đủ hết tiêu chuẩn, điều kiện là có thể đi vào hoạt động. Còn cơ quan nhà nước chỉ cần hậu kiểm", đại biểu nhấn mạnh.

Nhất trí cần tăng cường vấn đề hậu kiểm, Đại biểu Tô Ái Vang, Đoàn ĐBQH Thành phố Cần Thơ nêu 4 đề xuất. Một là, trước khi dự án bắt đầu, cơ quan quản lý nhà nước tập trung xây dựng các quy định, tiêu chuẩn rõ ràng và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong và sau khi dự án đi vào hoạt động để bảo đảm tuân thủ pháp luật, chất lượng và an toàn.

Hai là, các Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế trong cấp phép, quản lý và giám sát các dự án đầu tư trên địa bàn của mình tiến hành rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết, không còn phù hợp nữa để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; các điều kiện còn lại phải được công bố công khai minh bạch để nhà đầu tư dễ dàng tìm hiểu và tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Ba là, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan liên quan. Điều này giúp theo dõi, quản lý các dự án đầu tư trên phạm vi toàn quốc một cách hiệu quả, nhanh chóng và giảm bớt yêu cầu nhà đầu tư cung cấp lại các giấy tờ khác. Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý đầu tư, gắn với tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong cắt giảm thủ tục hành chính.

Bốn là, với các dự án có quy mô lớn, có tác động đến môi trường, tác động đến quốc phòng an ninh hoặc sử dụng vốn ngân sách nhà nước lớn thì cần có cơ chế kiểm soát đặc biệt, thẩm định kỹ lưỡng (tiền kiểm) để tránh rủi ro, thất thoát.

"Nếu áp dụng đồng bộ các cơ chế trên, đặc biệt là việc chuyển trọng tâm từ tiền kiểm sang hậu kiểm và phân cấp quản lý để đạt được mục tiêu vừa quản lý chặt chẽ rủi ro, vừa tạo môi trường đầu tư thông thoáng, nhưng lại giảm gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết trong điều kiện hiện nay", Đại biểu Tô Ái Vang nhấn mạnh.

Luật Đầu tư năm 2020 hiện còn khoảng 230 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Để phát huy quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, tạo lập môi trường thông thoáng, thu hút nhà đầu tư nước ngoài, đại biểu Tô Ái Vang cũng đề nghị, Chính phủ tăng cường chỉ đạo, phân công trách nhiệm quản lý cụ thể để bộ, ngành được phân công chủ động và thường xuyên rà soát, đề xuất bãi bỏ hoặc sửa đổi điều kiện đầu tư kinh doanh trong danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Tiếp tục cắt giảm tối đa danh mục ngành nghề kinh doanh điều kiện

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, ĐBQH tỉnh Điện Biên, cho biết, hiện nay trong dự thảo luật đã rà soát và cắt giảm khoảng 25 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. “Tuy nhiên chúng tôi thấy cần phải tiếp tục xem xét, rà soát và cắt giảm mạnh mẽ, tối đa các danh mục ngành nghề kinh doanh điều kiện trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội ngày hôm nay”, Bộ trưởng nói.

Nhấn mạnh, đây cũng là vấn đề “từ xưa đến nay dư luận, người dân rất quan tâm”, là việc “rất cần thiết phải làm, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cho biết, Bộ Tài chính sẽ có một cuộc họp về nội dung luật để cần thiết báo cáo Chính phủ rà soát và tiếp tục đề nghị cắt giảm các danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Dương Dung

Nguồn: Quochoi.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.

Theo dõi chúng tôi trên: