Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân 2026, nhìn lại 96 năm qua và chặng đường 40 năm đổi mới cho thấy, mùa xuân gắn liền với các sự kiện trọng đại của Đảng, của đất nước và chúng ta càng tự hào hơn về bản lĩnh chính trị, tầm nhìn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuân về không chỉ mang theo sức sống của thiên nhiên, mà còn mang theo khí thế của một dân tộc đang vươn mình mạnh mẽ, chuẩn bị bước vào một hành trình lịch sử đầy kỳ vọng: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Mùa xuân năm 1930, lịch sử dân tộc mở ra một trang mới, mốc son mới với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam: chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đảng ra đời là tất yếu khách quan, là kết quả của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra một thời kỳ mới, quyết định đến chiều hướng phát triển cho dân tộc.
Mùa xuân năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, tạo tiền đề cho những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cách mạng Việt Nam đã tiến một bước dài trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho sức mạnh của một Đảng cầm quyền biết dựa vào dân, vì dân và luôn tự chỉnh đốn để xứng đáng với sự tin cậy của quần chúng Nhân dân. Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn khẳng định một chân lý: Khi ý Đảng và lòng dân hòa làm một, không một thế lực nào có thể ngăn cản bước tiến của dân tộc.
Mùa xuân năm 1951, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951) và quyết định Đảng hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đã xác định nội dung chính là xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để lãnh đạo thắng lợi Nghị quyết Trung ương 15, đó là: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam”.
Trải qua biết bao khó khăn thử thách, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ mùa xuân thắng lợi này đến mùa xuân đại thắng khác. Từ mùa xuân Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đến đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất non sông, giang sơn thu về một mối, vai trò lãnh đạo của Đảng luôn được khẳng định thông qua những chủ trương, quyết sách đúng đắn, góp phần đưa dân tộc Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang.
Sau giải phóng miền Nam, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Mùa xuân năm 1986, mang theo luồng gió của sự đổi mới, là minh chứng điển hình cho tinh thần, bản lĩnh của Đảng không chỉ thể hiện trong những quyết sách trên chiến trường, mà còn thể hiện sự can đảm tự nhìn nhận khuyết điểm để đổi mới chính mình. Đến Đại hội VI, Đảng đã nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật để xoay chuyển vận mệnh đất nước từ khủng hoảng sang phát triển, mở ra thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu, rộng.
Tiếp nối tinh thần đổi mới từ mùa xuân năm 1986, mùa xuân năm 1987 là giai đoạn hiện thực hóa những tư tưởng cách mạng vào đời sống xã hội. Đây là thời điểm Đảng bắt đầu triển khai những quyết sách “sống còn” để tháo gỡ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, khơi thông nguồn lực sản xuất. Dưới ánh sáng của Đại hội VI, Đảng đã thể hiện bản lĩnh tự chỉnh đốn mạnh mẽ khi dám đối diện với những sai lầm chủ quan, duy ý chí để thiết lập nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đây là mùa xuân “hội tụ” của niềm tin, khẳng định Đảng không chỉ biết lãnh đạo kháng chiến, giải phóng dân tộc, mà còn đủ bản lĩnh, trí tuệ để lãnh đạo kiến tạo phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ quá độ.
Bước sang mùa xuân năm 1991, giữa bối cảnh thế giới đầy biến động khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng, sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định bản lĩnh, “chèo lái” vững vàng con thuyền cách mạng Việt Nam tiến ra biển lớn. Tại Đại hội VII (6/1991), Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Đây là lời khẳng định đanh thép về việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Giữa cơn phong ba của thời đại, Đảng không hề dao động, mà trái lại, càng chú trọng hơn tới công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến mùa xuân năm 1996, đất nước đã bước đầu thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đại hội VIII (7/1996) của Đảng quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mùa xuân này mang theo khát vọng đưa Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn với thế giới, gắn liền với yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng xác định rõ: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Sự phát triển lý luận của Đảng tiếp tục được nâng lên tầm cao mới vào mùa xuân năm 2011. Tại Đại hội XI (4/2001), Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đây là sự đúc kết tinh hoa trí tuệ sau 25 năm đổi mới, xác định rõ mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Đặc biệt, mùa xuân này cũng ghi dấu sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI - bước “đột phá” mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lần đầu tiên, những vấn đề cấp bách về ngăn chặn sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên được đặt ra một cách trực diện và quyết liệt, thể hiện thái độ không khoan nhượng của Đảng trước những nguy cơ từ bên trong.
Khí thế ấy được tiếp nối và đẩy mạnh lên tầm cao hơn vào mùa xuân năm 2016. Đại hội XII (01/2016) không chỉ tiếp tục công cuộc đổi mới, mà còn đặt dấu mốc cho giai đoạn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Với phương châm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, Đảng đã củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Những mùa xuân này chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc về phương thức lãnh đạo, khi Đảng không chỉ ban hành nghị quyết, mà còn quyết liệt đưa nghị quyết vào cuộc sống bằng những hành động cụ thể, kỷ luật nghiêm minh, giữ gìn uy tín của Đảng chân chính cầm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Mùa xuân năm 2021 - mùa xuân của Đại hội XIII - mở ra tầm nhìn chiến lược cho dân tộc đến giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, Đảng đã thể hiện vai trò là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo đất nước vượt qua thử thách, khẳng định tính ưu việt của chế độ. Đại hội XIII đã bổ sung thành tố “xây dựng hệ thống chính trị” vào nội hàm xây dựng Đảng thành “xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị”, bổ sung nội dung xây dựng Đảng về cán bộ thành tổng thể xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nếu như Đại hội VI (năm 1986) là “mùa xuân đổi mới” để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng thì Đại hội XIV chính là mùa xuân của sự đột phá đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới. Đại hội XIV không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà mang sứ mệnh lịch sử tổng kết 40 năm đổi mới đất nước. Ý nghĩa cốt lõi của Đại hội XIV là xác lập hệ thống lý luận và giải pháp thực tiễn để đưa dân tộc Việt Nam vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Đây là mùa xuân của tự chủ chiến lược, tự lục, tự cường, tự tin tiến mạnh ở cấp độ cao nhất.
Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển từ “chống” sang “xây” một cách toàn diện và bền vững hơn. Nếu các nhiệm kỳ trước, Đảng tập trung quyết liệt vào việc làm trong sạch bộ máy, đẩy lùi tham nhũng thì đến Đại hội XIV, ý nghĩa trọng tâm là thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đây là giai đoạn Đảng chú trọng vào việc khơi thông mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Đảng không chỉ mạnh ở kỷ luật nghiêm minh, mà còn mạnh ở khả năng quy tụ hiền tài, tạo môi trường để những đảng viên có khát vọng cống hiến được tỏa sáng. Đây là bước hoàn thiện mô hình lý luận về Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện mới.
Mùa xuân của Đại hội XIV năm 2026 chính là bản lề cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (năm 2030), 100 năm thành lập nước (năm 2045). Những quyết sách từ Đại hội XIV sẽ quyết định diện mạo của Đảng khi bước sang thế kỷ thứ hai của mình. Đảng quyết định tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và xác định: Một tổ chức mạnh phải là một tổ chức tinh, gọn, thông minh và gắn bó mật thiết với Nhân dân bằng những giá trị phục vụ thực chất. Đại hội XIV là đại hội của hành động, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng để giải quyết những “điểm nghẽn” thể chế cuối cùng, mở đường cho đất nước đi lên.
Trong bối cảnh thế giới biến động không ngừng và khó lường, Đại hội XIV khẳng định bản lĩnh của một Đảng biết “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Bên cạnh việc khẳng định quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung thêm nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế. Mùa xuân này mang ý nghĩa nâng tầm ngoại giao đa phương của Việt Nam. Đảng không chỉ lãnh đạo đất nước hội nhập, mà còn chủ động đóng góp vào việc định hình các “luật chơi” quốc tế. Đây là minh chứng cho thấy sự lớn mạnh về ngoại giao Đảng, tạo ra hành lang an toàn và thuận lợi nhất cho công cuộc vươn mình của dân tộc.
![]() |
| Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng |
Nhìn lại hành trình 96 năm với những mùa xuân lịch sử, có thể khẳng định rằng: Sự ra đời và lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan, là sự lựa chọn của lịch sử. Từ mùa xuân năm 1930 đến mùa xuân năm 2026 (Đại hội XIV), Đảng đã chứng minh một chân lý thời đại: Một chính đảng mác-xít chân chính chỉ có thể giữ vững vai trò lãnh đạo khi biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”. Những mùa xuân đi qua không chỉ để lại những trang sử vàng chói lọi, mà còn bồi đắp nên hệ thống lý luận sắc bén về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong sự vận động không ngừng của lịch sử, Đảng đã khéo léo kết hợp giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, giữ vững nguyên tắc chiến lược và linh hoạt về sách lược, để từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành một Đảng cầm quyền lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình, trọng trách của Đảng càng trở nên nặng nề nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lúc này không chỉ dừng lại ở việc làm trong sạch bộ máy, mà phải nâng tầm thành nghệ thuật lãnh đạo, quản trị quốc gia hiện đại, lấy sự liêm chính, tinh gọn và hiệu năng, hiệu quả làm thước đo giá trị. Với tầm nhìn hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và xa hơn là mốc 100 năm thành lập nước, mỗi đảng viên hôm nay phải tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy tối đa nội lực, vai trò nêu gương để đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đang đứng trước thời điểm vàng lịch sử để thực hiện bước nhảy vọt về chất, bước vào kỷ nguyên vươn mình với tâm thế tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường.
Bước vào xuân mới với tinh thần của Đại hội XIV, Việt Nam mang theo khí thế và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 96 mùa xuân của Đảng, 40 năm - hành trình đổi mới, Việt Nam không chỉ tự hào về những con số tăng trưởng kinh tế hay vị thế quốc tế ngày càng nâng cao, mà quan trọng hơn là sự khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ Đại hội XIV là: “phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ sức, đủ tài; quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, giữ vững và tăng cường mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị”[1].
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, Đảng phải không ngừng tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, gắn bó “máu thịt” với Nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
PGS. TS. Lê Văn Cường
Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1]. https://tuoitre.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-be-mac-dai-hoi-dang-xiv-20260123174601193.htm, truy cập ngày 10/01/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)