Thứ năm 05/03/2026 16:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới
Ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

PV: Thưa ông, nhìn lại hành trình một năm qua, đâu là điểm sáng và những vướng mắc lớn nhất trong hệ thống pháp luật về kinh doanh mà cộng đồng doanh nghiệp phản ánh đến VCCI?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn đặc biệt, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh cả về “lượng” và “chất”. Đến cuối năm 2025, chúng ta đã có trên 01 triệu doanh nghiệp đăng ký hoạt động.

Đáng tự hào hơn, cộng đồng doanh nghiệp không chỉ kiên cường vượt khó, giữ vững nhịp độ sản xuất mà còn thẩm thấu mạnh mẽ tinh thần của “Kỷ nguyên vươn mình”. Họ đã và đang chủ động dấn thân vào những sân chơi lớn, tiên phong trong chuyển đổi số, thực hành các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) và cam kết mạnh mẽ với chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia.

Có được kết quả này là nhờ một phần quan trọng về những thay đổi trong hệ thống pháp luật kinh doanh ở Việt Nam năm 2025, nhất là từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW). Đây được coi là một trong các nghị quyết trụ cột, là “lời hiệu triệu cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc”, tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, Quốc hội, Chính phủ đã sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật giúp xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hoạt động.

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, bức tranh pháp luật kinh doanh còn đan xen một số điều đáng trăn trở. VCCI nhận thấy, vướng mắc lớn nhất mà doanh nghiệp phản ánh trong năm qua không chỉ là sự chồng chéo, xung đột giữa các văn bản luật, mà sâu xa hơn nằm ở tư duy quản lý. Không ít quy định pháp luật được ban hành còn mang nặng tư duy “không quản được thì cấm”, hoặc thiết kế theo hướng “thuận lợi cho cơ quan quản lý, đẩy khó khăn về phía người dân”. Tư duy này dẫn đến các thủ tục hành chính mang tính “xin - cho”, phát sinh nhiều giấy phép con biến tướng dưới dạng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật. Chính những “điểm nghẽn” thể chế này đang làm gia tăng chi phí tuân thủ, bào mòn sức cạnh tranh và làm cho doanh nghiệp lỡ nhịp nhiều cơ hội đầu tư quý giá.

PV: Trong bối cảnh nhiều đạo luật quan trọng đang được sửa đổi, ông đánh giá như thế nào về mức độ ổn định, nhất quán của hệ thống pháp luật hiện hành? Doanh nghiệp đang kỳ vọng điều gì?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2025, chúng ta đã chứng kiến một bước tiến lịch sử, một cuộc cách mạng thực sự trong tư duy lập pháp với việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW. Lần đầu tiên, Đảng xác định công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật là “đột phá của đột phá”, là chìa khóa để giải phóng sức sản xuất.

Dù vậy, nếu đánh giá khách quan từ góc độ thị trường, mức độ ổn định và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện chưa đạt kỳ vọng. Doanh nghiệp vẫn thường trực nỗi lo về tình trạng chính sách thay đổi đột ngột, thiếu lộ trình hoặc thiếu tính tiên liệu. Một dự án đầu tư có vòng đời 20 - 30 năm không thể vận hành “trơn tru” trên nền tảng chính sách thay đổi theo từng năm.

Hiện, điều doanh nghiệp kỳ vọng nhất không phải là sự ưu đãi hay hỗ trợ tài chính, mà chính là sự an toàn pháp lý. Họ mong muốn tư duy làm luật phải chuyển hẳn từ “kiểm soát, thắt chặt” sang “kiến tạo phát triển” như Nghị quyết số 66-NQ/TW đã chỉ rõ. Doanh nghiệp cần hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản được bảo đảm thực chất. Chỉ khi các rủi ro pháp lý được giảm thiểu tối đa, doanh nghiệp mới dám mạnh dạn bỏ vốn lớn, đầu tư công nghệ cao và tính chuyện làm ăn dài hạn.

PV: Theo VCCI, những bất cập trong thực thi pháp luật nào đang ảnh hưởng mạnh nhất đến niềm tin của doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Nếu thể chế là “nền móng” thì thực thi là “khung sườn” quyết định hình hài của môi trường kinh doanh. Bất cập lớn nhất, gây nhức nhối nhất hiện nay chính là căn bệnh “sợ sai, sợ trách nhiệm” trong một bộ phận cán bộ. Tình trạng hồ sơ bị “ngâm”, bị đùn đẩy lòng vòng qua nhiều cửa, nhiều cấp mà không ai dám quyết, đang làm cản trở dòng chảy đầu tư.

Bên cạnh đó, tâm lý lo ngại về hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự không phải không có. Doanh nghiệp rất phấn khởi với chỉ đạo quyết liệt tại Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW về “không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế”. Niềm tin của doanh nghiệp chỉ được củng cố vững chắc khi họ thấy pháp luật được thực thi công tâm, khách quan; cơ quan công quyền đóng vai trò đồng hành, hướng dẫn tuân thủ thay vì chỉ chăm chăm “soi xét”, “bắt lỗi”. Một môi trường thực thi pháp luật công bằng, nơi người làm đúng được bảo vệ, người làm sai bị xử lý nghiêm minh và rủi ro kinh doanh được tách bạch với vi phạm pháp luật, chính là giải pháp tốt nhất để vực dậy niềm tin và tinh thần khởi nghiệp.

PV: Nhiều doanh nghiệp cho rằng sự thay đổi chính sách liên tục làm cho họ khó xây dựng kế hoạch dài hạn. Theo ông, cần làm gì để bảo đảm hành lang pháp lý ổn định và dự đoán được?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Đây là bài toán sống còn đối với môi trường đầu tư. Để giải quyết triệt để, Nghị quyết số 66 - NQ/TW đã đưa ra những định hướng rất “trúng” và “đúng”. Theo tôi, cần cụ thể hóa quyết liệt bằng ba giải pháp trọng tâm:

Một là, phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa luật và văn bản dưới luật: Luật chỉ nên quy định những vấn đề khung, những nguyên tắc cốt lõi mang tính ổn định dài hạn, bảo đảm tính nghiêm minh và nhất quán. Những vấn đề kỹ thuật, quy trình thực hiện hay các yếu tố biến động thường xuyên theo tín hiệu thị trường thì giao Chính phủ quy định. Cách tiếp cận này sẽ giúp luật có “tuổi thọ” cao hơn, tránh tình trạng vừa ban hành đã lạc hậu, phải sửa đổi.

Hai là, phân cấp, phân quyền thực chất: Phải thực hiện triệt để phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Khi địa phương được trao quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm, các quyết định đầu tư sẽ được xử lý nhanh chóng, ngay tại cơ sở, giảm bớt các tầng nấc trung gian, xin ý kiến lòng vòng, kéo dài thời gian, lãng phí nguồn lực xã hội.

Ba là, nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách. Đây phải là một quy trình khoa học và nghiêm túc, không hình thức. Mọi sự thay đổi chính sách phải được tính toán kỹ lưỡng, định lượng được chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và phải có lộ trình chuyển tiếp (transition period) phù hợp. Tuyệt đối tránh các quy định “giật cục”, áp dụng hồi tố gây bất lợi hoặc có hiệu lực tức thì, làm cho doanh nghiệp không kịp trở tay.

PV: Bước vào năm mới, ông kỳ vọng điều gì ở cộng đồng doanh nhân Việt Nam và tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2026 mở ra cánh cửa của “Kỷ nguyên vươn mình”, là thời điểm vàng để đất nước bứt phá phát triển. Tôi kỳ vọng cộng đồng doanh nhân Việt Nam nhạy bén, tận dụng tốt các cơ hội từ hệ thống chính sách đồng bộ và chiến lược mà Đảng vừa ban hành, đó là: Chủ động chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để nâng cao năng suất theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; khơi thông động lực phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam theo Nghị quyết số 68-NQ/TW; mạnh dạn tham gia vào chuỗi giá trị năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, đón đầu xu hướng toàn cầu theo Nghị quyết số 70-NQ/TW; chú trọng đầu tư cho con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài theo định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Về thể chế kinh tế, tôi kỳ vọng năm 2026 là năm của sự “cởi trói” toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa. Hệ thống pháp luật không chỉ dừng ở chức năng quản lý, mà phải thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Chúng ta cần một không gian pháp lý mở, chấp nhận các cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình kinh doanh mới, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Khi thể chế thông thoáng, nguồn lực khổng lồ trong dân và doanh nghiệp sẽ được khơi thông, tuôn chảy mạnh mẽ, tạo nên sức bật cho nền kinh tế.

PV: VCCI có đề xuất, kiến nghị gì để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh không, thưa ông?

Ông Nguyễn Quang Vinh: Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, VCCI kiến nghị 05 nhóm giải pháp trọng tâm mang tính hành động:

Một là, tiếp tục rà soát và xử lý triệt để chồng chéo. Cần tiếp tục rà soát để phát hiện và tháo gỡ ngay các mâu thuẫn, xung đột giữa các luật chuyên ngành (đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường...), khơi thông điểm nghẽn nguồn lực.

Hai là, đổi mới quy trình làm luật theo hướng thực chất. Tăng cường sự tham gia sâu rộng và thực chất của đối tượng chịu sự tác động (người dân, doanh nghiệp) ngay từ khâu đề xuất chính sách. Luật pháp phải bám sát “hơi thở” cuộc sống, giải quyết được các bài toán thực tiễn của thị trường.

Ba là, cải cách thủ tục hành chính gắn liền với chuyển đổi số. Đơn giản hóa tối đa điều kiện kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để minh bạch hóa quy trình giải quyết thủ tục, giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp, từ đó triệt tiêu cơ hội tham nhũng vặt và chi phí phi chính thức.

Bốn là, bảo đảm cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Cần cụ thể hóa và bảo đảm thực hiện cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Cần có hành lang pháp lý an toàn để cán bộ yên tâm thực thi công vụ, khơi thông dòng chảy thủ tục.

Năm là, nâng cao vị thế và vai trò của các hiệp hội và tổ chức đại diện doanh nghiệp. Để các tổ chức đại diện doanh nghiệp thực sự là cầu nối hiệu quả, tham gia giám sát độc lập và phản biện xã hội đối với công tác thi hành pháp luật, đảm bảo tiếng nói của doanh nghiệp được lắng nghe và tôn trọng.

Ông Nguyễn Quang Vinh khẳng định: “Xuân Bính Ngọ 2026 mang theo vận hội mới và khí thế mới. Với điểm tựa vững chắc là Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá”, với tinh thần dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và chủ trương khơi thông động lực phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam theo Nghị quyết số 68-NQ/TW cùng nhiều chủ trương quan trọng khác, tôi hoàn toàn tin tưởng doanh nghiệp Việt Nam sẽ được giải phóng tối đa năng lực, cởi bỏ mọi rào cản để tự tin bước vào năm mới, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển hùng cường và thịnh vượng của đất nước”.

Phương Liên

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới; phát huy vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tế, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: