Thứ ba 03/03/2026 13:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

Bài 2: Quốc hội thống nhất, bảo vệ tổ quốc, đổi mới và hội nhập

Quốc hội khóa V (1975 - 1976) - nhiệm kỳ ngắn nhất trong lịch sử Quốc hội Việt Nam – là nhiệm kỳ khởi đầu của kỷ nguyên đất nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất tại Hội trường Thống Nhất đến Hội trường Diên Hồng hôm nay, Quốc hội Việt Nam đã đi qua nửa thế kỷ kiến thiết, đổi mới và hội nhập. Trong dòng chảy lịch sử, Quốc hội luôn bền bỉ trên hành trình vì Nhân dân, khẳng định vai trò là trung tâm quyền lực của Nhân dân, không ngừng hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực lập hiến, lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.

Từ Hội trường Thống Nhất năm 1976 đến Diên Hồng hôm nay

Tháng 7 năm 1976, giữa không khí rộn ràng sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Quốc hội quy định Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI. Quốc hội quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.

Nếu giai đoạn 1946 - 1975 là hành trình “xây nền trong khói lửa”, thì giai đoạn 1975 đến nay là hành trình “kiến thiết thể chế, củng cố nền dân chủ nhân dân và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường
Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (02/6/1976). (Ảnh tư liệu)

Lập hiến - Từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 2013: Ba mốc lập hiến cho ba thời kỳ phát triển

Hiến pháp 1980 - Hiến định cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt Nam thống nhất

Năm 1980, Quốc hội khóa VI thông qua bản Hiến pháp mới, khẳng định Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp năm 1980 là dấu mốc của thời kỳ thống nhất, phản ánh khát vọng xây dựng đất nước trên cơ sở công hữu, quản lý tập trung và vai trò lãnh đạo của Đảng được thể chế hóa.

Sau khi lấy ý kiến, thảo luận trong cán bộ và Nhân dân với gần 20 triệu lượt người thuộc mọi thành phần đã tích cực hưởng ứng tham gia thảo luận. Ngày 18/12/1980, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI, Hiến pháp năm 1980 được biểu quyết thông qua. Tính “Nhân dân” được thể hiện rõ nét qua vai trò của Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 1980, Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – có mối quan hệ chi phối tuyệt đối đối với các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên do Quốc hội bầu, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

Hiến pháp năm 1992 - Cột mốc lập hiến của thời kỳ Đổi mới

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 - khởi đầu công cuộc Đổi mới, Quốc hội bước vào thời kỳ thể chế hóa đường lối phát triển kinh tế thị trường, hội nhập định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp năm 1992 đánh dấu sự chuyển biến quan trọng: thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư tư nhân và bảo vệ quyền sở hữu cá nhân. Việc lấy ý kiến của đông đảo Nhân dân và cán bộ vào dự thảo Hiến pháp được thực hiện với tinh thần nghiêm túc, dân chủ, thể hiện ý thức trách nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân.

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường
Tại kỳ họp lần thứ 11, tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992. (Ảnh tư liệu)

Hiến pháp năm 2013 - Bước tiến thể chế hóa Nhà nước pháp quyền và quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013, được xem là bản Hiến pháp của thời kỳ hội nhập và phát triển toàn diện.

Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều, với nhiều điểm mới: Khẳng định Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; mở rộng quyền con người, quyền công dân; phân định rõ hơn chức năng giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát; Quy định cơ chế giám sát quyền lực và trách nhiệm giải trình.

Điểm mới căn bản của Hiến pháp năm 2013 khi quy định đầy đủ hơn về chủ quyền Nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện trên nhiều phương diện. Cụ thể, trong xây dựng và bảo vệ Hiến pháp, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những quy định đó đã khẳng định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhiệm vụ của Nhà nước phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường
Toàn cảnh phiên khai mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. (Ảnh tư liệu)

Lập pháp - 50 năm chuyển mình: Từ hành chính hóa đến chuyên nghiệp hóa

Nếu lập hiến là nền móng thì lập pháp là công cụ để cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và ý chí Nhân dân. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay, chứng kiến xu hướng phát triển của hoạt động lập pháp về số lượng, chất lượng, quy trình và tính công khai, minh bạch, dân chủ ngày càng được nâng cao qua mỗi nhiệm kỳ.

Từ số liệu thống kê - bức tranh lập pháp 1976 - 2025

Nhiệm kỳ Quốc hội

Số luật, bộ luật, pháp lệnh được thông qua

Các lĩnh vực nổi bật

Đặc điểm chính

Khóa VI (1976-1981)

1 luật, 02 pháp lệnh

Tổ chức bộ máy, thống nhất pháp luật

Hợp nhất pháp luật hai miền

Khóa VII (1981-1987)

25 (10 đạo luật; 15 pháp lệnh)

Kinh tế – hành chính – quốc phòng

Chuẩn bị cho đổi mới

Khóa VIII (1987-1992)

66 ( 2 bộ luật, 25 đạo luật và 39 pháp lệnh)

Kinh tế, doanh nghiệp, hôn nhân

Giai đoạn đầu Đổi mới

Khóa IX (1992-1997)

79 (36 luật, bộ luật và 43 pháp lệnh)

Đầu tư, dân sự, ngân sách

Thể chế hóa Hiến pháp 1992

Khóa X (1997-2002)

71 (32 luật và bộ luật, 39 pháp lệnh)

Doanh nghiệp, phòng chống tham nhũng

Đa dạng hóa lĩnh vực lập pháp

Khóa XI (2002-2007)

70 (44 văn bản luật và 26 pháp lệnh)

Giáo dục, bảo hiểm, đất đai

Đẩy mạnh xã hội hóa

Khóa XII (2007-2011)

74 (60 luật, 14 pháp lệnh)

Tư pháp, hình sự, hành chính

Cải cách tư pháp, hội nhập WTO

Khóa XIII (2011-2016)

110 (100 bộ luật, luật và 10 pháp lệnh)

Hiến pháp 2013, dân chủ cơ sở

Tăng cường minh bạch

Khóa XIV (2016-2021)

74 (72 luật và 02 pháp lệnh)

Kinh tế số, an ninh mạng, đầu tư công

Ứng dụng công nghệ, hội nhập quốc tế

Khóa XV (2021-nay)

Hơn 100 luật và pháp lệnh

Chuyển đổi số, năng lượng, phòng chống tham nhũng

Lập pháp số hóa, linh hoạt

Từ hành chính hóa đến chuyên nghiệp hóa lập pháp

Quản lý xã hội bằng pháp luật trở thành nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội hiện đại, một thách thức trong tiến trình đổi mới và hội nhập. Chính vì vậy, giai đoạn đầu sau thống nhất, công tác lập pháp mang nặng tính hành chính, tập trung ban hành văn bản tổ chức, quản lý nhà nước. Nhưng từ Quốc hội khóa VIII, lập pháp chuyển sang mô hình chuyên nghiệp hóa, các Ủy ban của Quốc hội đóng vai trò thẩm tra, góp phần nâng cao hiệu quả phản biện và đánh giá tác động.

Hoạt động lập pháp của Quốc hội có sự chuyển biến mạnh mẽ sau khi Quốc hội khóa IX thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, đánh dấu bước phát triển trong quy trình lập pháp. Đặc biệt, từ Quốc hội khóa XIII, hoạt động lập pháp ứng dụng công nghệ thông tin sâu rộng: dự thảo luật được công khai trực tuyến, thu nhận ý kiến Nhân dân và chuyên gia qua nền tảng điện tử. Công nghệ số đã biến quy trình lập pháp từ khép kín thành minh bạch, nghị trường từ nơi bàn giấy thành nơi đối thoại chính sách.

Quyết định các vấn đề trọng đại: Quốc hội trong vai trò hoạch định chiến lược quốc gia

Từ cơ chế tập trung sang quyết sách dựa trên bằng chứng

Trước Đổi mới, Quốc hội thực hiện chức năng quyết định chủ yếu thông qua việc phê chuẩn kế hoạch 05 năm, ngân sách, nhân sự cấp cao. Sau năm 1986, Quốc hội trở thành cơ quan quyết định chính sách quốc gia trên cơ sở phân tích dữ liệu và phản biện chính sách. Quốc hội đã thông qua nhiều chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 1981 đến 2025; phê chuẩn hàng trăm dự án đầu tư trọng điểm quốc gia, bao gồm các công trình biểu tượng như Nhà máy Thủy điện Sơn La, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đường cao tốc Bắc - Nam; thảo luận và phê duyệt ngân sách trung bình hàng triệu tỷ đồng/năm trong các khóa gần đây.

Công tác hội nhập đã được Quốc hội quan tâm thiết lập ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên khi đất nước thống nhất. Từ khi là thành viên của IPU (tháng 4/1979), Quốc hội Việt Nam luôn là thành viên tích cực và có trách nhiệm. Việc tham dự các hoạt động của IPU là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các hoạt động ngoại giao nghị viện đa phương của Quốc hội, nhằm thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích của Việt Nam.

Quốc hội và quyền nhân sự, bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực

Từ khi được thành lập, Quốc hội luôn giữ vai trò then chốt trong công tác nhân sự cấp cao. Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao và phê chuẩn kết quả bổ nhiệm, bãi nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng. Cơ chế giám sát quyền lực thông qua công tác nhân sự gắn với việc lấy phiếu tín nhiệm được áp dụng từ năm 2013, là bước tiến quan trọng trong kiểm soát quyền lực.

Đến năm 2023, Quốc hội đã tiến hành 05 lần lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm cá nhân. Đây là hình thức để Nhân dân thông qua Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Nhà nước theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Giám sát tối cao: Từ hình thức đến hiệu quả, từ cơ chế đến văn hóa trách nhiệm

Giám sát chuyên đề, công cụ mạnh để phòng ngừa sai phạm

Hoạt động giám sát chuyên đề có nhiều đổi mới, tập trung vào những vấn đề lớn, “nóng” được cử tri đặc biệt quan tâm, ngày càng khẳng định là hình thức giám sát thiết thực, có hiệu quả rõ nét, được dư luận, cử tri đồng tình và đánh giá cao. Nội dung giám sát vừa bao quát, toàn diện các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội; vừa có trọng tâm, trọng điểm và bám sát yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Phương thức giám sát được tiến hành khoa học, chuyên nghiệp, ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất hơn. Khâu hậu giám sát được chú trọng và đẩy mạnh tại nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, góp phần nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội.

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường
Quốc hội trong phiên làm việc tại hội trường, tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV. (Ảnh tư liệu)

Chất vấn và trả lời chất vấn - Bản lĩnh nghị trường

Chất vấn và trả lời chất vấn được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, thể hiện tinh thần trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và của các chủ thể có trách nhiệm trả lời chất vấn trước Nhân dân. Từ năm 1994, các phiên chất vấn tại các Kỳ họp Quốc hội được phát thanh và truyền hình trực tiếp, công khai, cởi mở, qua đó làm rõ hơn trách nhiệm của người bị chất vấn. Trung bình mỗi kỳ họp có 03 - 04 phiên chất vấn, kéo dài 02 - 03 ngày. Mỗi phiên có khoảng 300 - 400 câu hỏi, gần 60 lượt tranh luận. Từ năm 2018, Quốc hội thực hiện hình thức chất vấn “truy vấn nhanh, trả lời ngắn” để tăng tính tương tác.

Những chuyển biến chiến lược: Quốc hội chuyên nghiệp - Đại biểu chuyên sâu - Nghị trường mở

Một bước tiến trong hành trình xây dựng Quốc hội vì Nhân dân, năm 2008, Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nay là Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội) được thành lập, là đầu mối tiếp nhận ý kiến cử tri. Thiết chế này được thành lập thể hiện đúng tinh thần: “Quốc hội lắng nghe, phản ánh và bảo vệ quyền lợi của Nhân dân”.

Trên cả phương diện lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, có thể tổng kết 05 xu hướng chuyển biến nổi bật của Quốc hội Việt Nam từ 1975 đến nay:

Xu hướng

Đặc điểm nổi bật

Tác động

Chuyên nghiệp hóa đại biểu

Tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách từ ~15% (khóa IX) lên ~40% (khóa XV); đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn

Nâng cao chất lượng thảo luận, lập pháp và giám sát

Công khai hóa thông tin

Truyền hình trực tiếp các kỳ họp, công khai dự thảo luật, thu thập ý kiến nhân dân

Tăng tính minh bạch, củng cố niềm tin xã hội

Số hóa quy trình làm luật

Áp dụng e-Parliament, hồ sơ điện tử, thu thập ý kiến trực tuyến

Tăng hiệu quả, tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian soạn thảo và thẩm tra

Hội nhập quốc tế và ngoại giao nghị viện

Tăng cường tham gia IPU, AIPA, APF; đối thoại nghị viện song phương và đa phương

Nâng cao vị thế Quốc hội và Việt Nam trên trường quốc tế; học hỏi kinh nghiệm lập pháp

Tăng cường giám sát quyền lực hành pháp

Đổi mới hình thức giám sát; áp dụng giám sát hậu kiến nghị và lấy phiếu tín nhiệm

Tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan hành pháp

Con đường 50 năm Quốc hội vì Nhân dân trong thời đại mới

Từ hội trường Thống nhất năm 1976 đến Hội trường Diên Hồng năm 2025, Quốc hội Việt Nam đã trải qua nửa thế kỷ của thống nhất, đổi mới và hội nhập. Quốc hội hôm nay là sự kết tinh của 80 năm thể chế, 50 năm đổi mới và hàng triệu lá phiếu của Nhân dân.

Nửa thế kỷ trôi qua từ ngày đất nước thống nhất, tiếng hát: “Vì Nhân dân, chiến đấu không ngừng…” đã vang lên trong mỗi kỳ họp để khẳng định con đường đi của Quốc hội Việt Nam. Con đường ấy, 80 năm qua, vẫn chỉ có một đích đến duy nhất: Quốc hội vì Nhân dân - nơi ý chí Nhân dân trở thành pháp luật, nơi tiếng nói Nhân dân trở thành hành động của Nhà nước.

Hoàng Lan - Phương Liên - Hoàng Trung

(Còn tiếp)

Bài 3: Kỳ họp cuối cùng của khóa XV - Tầm nhìn cho một Quốc hội vì Nhân dân

Tài liệu tham khảo:

1. Cổng thông tin điện tử Quốc hội, https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau:

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau: 'Khoảng cách địa lý không thể là khoảng cách trách nhiệm'

Ngày 2/3, tại Đảng ủy xã Cái Nước, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri với các ứng cử viên ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày chương trình hành động với cam kết hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn phát triển, đồng hành cùng địa phương xây dựng Cà Mau phát triển nhanh, bền vững.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Theo danh sách chính thức những người ứng cử trong cả nước, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khóa XVI.
Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hội đồng Bầu cử Quốc gia vừa công bố danh sách chính thức 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Trong đó, khối Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam gồm 27 người ứng cử thuộc khối MTTQ Việt Nam và 9 người ứng cử thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố.
Danh sách chính thức ứng cử viên đại biểu Quốc hội Khoá XVI

Danh sách chính thức ứng cử viên đại biểu Quốc hội Khoá XVI

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, vừa ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG ngày 14/2/2026 công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Khoá XVI theo từng đơn vị trong cả nước.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Thông tin, tuyên truyền giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bầu cử

Thông tin, tuyên truyền giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bầu cử

Sáng 06/02, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị tập huấn báo chí tuyên truyền cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.