Thứ ba 03/03/2026 13:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Nghiên cứu chính sách
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh bày tỏ sự thống nhất cao về sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các chính sách đã được đề xuất

Tham dự cuộc họp có GS.TS. Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, đại diện một số bộ, ngành có liên quan như: Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo… các chuyên gia và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
02 chính sách được đề xuất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Thay mặt cơ quan lập đề xuất chính sách trao đổi tại cuộc họp, đại diện Bộ Y tế trình bày những nội dung cơ bản của chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Theo đó, 02 nhóm chính sách được đề xuất gồm:

Chính sách 1: Cấm kinh doanh, tàng trữ, quá cảnh, vận chuyển, chứa chấp người sử dụng, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và thuốc lá mới khác.

Chính sách được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại Nghị quyết số 173/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, trong đó, Quốc hội thống nhất cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, chất gây nghiện, gây hại cho sức khỏe con người (thuốc lá mới khác); nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi tác hại của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và thuốc lá mới khác, đặc biệt là với phụ nữ mang thai, trẻ em và thanh thiếu niên - những đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các sản phẩm này; đồng thời giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong sớm do thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và thuốc lá mới khác gây ra.

Chính sách 2: Tăng cường các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá điếu, bao gồm cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán; mở rộng thêm các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn; tăng diện tích cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh của mỗi mặt chính trước và mặt chính sau trên bao, tút, hộp thuốc lá.

Nội dung của chính sách gồm các nội dung quy định về: (i) giảm tiếp thị để giảm sự hấp dẫn và khả năng tiếp cận thuốc lá đối với giới trẻ thông qua việc loại bỏ hoàn toàn yếu tố trưng bày tại điểm bán. Biện pháp này nhằm bất bình thường hóa hành vi hút thuốc, hạn chế tác động tới thị giác khuyến khích sử dụng thuốc lá, giảm hành vi mua ngoài dự định, đặc biệt ở nhóm thanh thiếu niên hoặc những người đang trong quá trình cai nghiện.

(ii) Hỗ trợ người hút thuốc và người sử dụng thuốc lá cai nghiện bằng cách loại bỏ các tác nhân gợi nhớ và kích thích tiêu dùng, qua đó xây dựng môi trường thuận lợi hơn cho việc bỏ thuốc; bảo vệ sức khỏe người không hút thuốc bằng cách tránh khỏi khói thuốc lá thụ động chứa nhiều chất độc hại, giảm nguy cơ bệnh tật; tạo môi trường an toàn, văn minh; phòng chống cháy nổ; giáo dục và bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên.

(iii) Chung tay cùng Nhà nước tuyên truyền, phổ biến về tác hại của thuốc lá, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước; đồng thời nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe bằng cách tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe, thay đổi thường xuyên hình ảnh in cảnh báo, cung cấp thông tin đường dây cai nghiện thuốc lá nhằm giảm tiếp cận và sử dụng sử dụng thuốc lá, phù hợp với các nước trong khu vực và trên thế giới.

(iv) Tăng cường hiệu quả thực thi các quy định hiện hành về cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá, cấm hút thuốc lá hoàn toàn tại một số địa điểm; in nhãn cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và khắc phục những lỗ hổng pháp lý hiện có.

(v) Đồng bộ hóa hệ thống pháp luật quốc gia với cam kết quốc tế, phù hợp với Công ước khung về Kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO FCTC) và kinh nghiệm quốc tế trong kiểm soát thuốc lá, khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Tại cuộc họp, đa số đại biểu nhất trí về chủ trương sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá nhằm cụ thể hóa các biện pháp giảm thiểu tác hại thuốc lá; đồng thời đánh giá cao sự chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng của cơ quan lập đề xuất chính sách.

Nghiên cứu chính sách
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

Bên cạnh đó, một số đại biểu đề nghị Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện báo cáo rà soát trên cơ sở căn cứ vào hệ thống các điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người, đặc biệt là quyền bảo vệ sức khỏe con người như: Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị về; Điều 12 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Điều 11, 12 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Điều 24 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.

Về dự thảo Tờ trình, tại điểm b Mục V.1, cơ quan lập đề xuất cần nghiên cứu, bổ sung nguyên tắc xác định đối tượng áp dụng của biện pháp cấm theo hướng không phụ thuộc vào tên gọi, hình thức, cấu trúc hay thế hệ công nghệ của sản phẩm.

Đối với các chính sách, một số đại biểu đề xuất bổ sung 01 chính sách liên quan đến việc tổ chức thực hiện để bảo đảm hiệu quả của công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá được tốt hơn trên thực tiễn.

Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh bày tỏ sự thống nhất cao về sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các chính sách đã được đề xuất.

Trao đổi về Chính sách 1, Thứ trưởng yêu cầu cơ quan lập đề xuất chính sách nghiên cứu đưa ra khái niệm "các sản phẩm thuốc lá mới khác" bảo đảm rõ ràng và khoa học hơn, bởi, hiện tại, định nghĩa này mới chỉ dựa trên tiêu chí "có chứa nicotine" là chưa đủ chặt chẽ, dễ gây nhầm lẫn với các loại thuốc lá điếu hay thuốc lá viên truyền thống.

Đối với Chính sách 2, Thứ trưởng cơ bản nhất trí. Tuy nhiên, Bộ Y tế cần làm rõ nội hàm khái niệm "cơ sở bán buôn, bán lẻ thuốc lá" để bảo đảm tính thống nhất với quy định của Luật hiện hành; đồng thời cần xác định rõ đối tượng áp dụng là chỉ dành cho doanh nghiệp, đại lý hay tất cả các cơ sở kinh doanh khác. Đây là yếu tố then chốt để khẳng định tính thuyết phục và khả thi khi chính sách được ban hành.

Ngoài ra, Thứ trưởng đề nghị cơ quan lập đề xuất nghiên cứu bổ sung hai chính sách quan trọng vào hồ sơ đề xuất, cụ thể: Thứ nhất là chính sách về tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo các nguồn lực và cơ chế phối hợp hiệu quả trong thực tiễn; thứ hai là chính sách "cấm theo thế hệ" - một hướng đi mới hướng tới việc bảo vệ các thế hệ tương lai khỏi tác hại của thuốc lá một cách bền vững.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Bảo đảm vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật

Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới; phát huy vai trò, giá trị của văn bản hợp nhất trong thực hiện áp dụng và thi hành pháp luật trên thực tế, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật, giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: