Thứ ba 03/03/2026 13:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Sáng ngày 27/10/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của 04 dự thảo: Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Trong đó có nhiều điểm mới quan trọng góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự.

Dự án Luật Tương trợ tư pháp về dân sự được xây dựng trên cơ sở tách Luật Tương trợ tư pháp có nhiều điểm mới nổi bật

Dự án Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là một trong bốn dự án luật được xây dựng trên cơ sở tách Luật Tương trợ tư pháp hiện hành. Theo Nghị quyết số 129/2024/QH15 ngày 08/6/2023 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, dự án Luật đã được Quốc hội khóa XV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 và dự kiến được thông qua tại kỳ họp thứ 10.

Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ chủ trì giúp Chính phủ trình dự án Luật này. Sau khi tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật) gồm gồm 04 chương và 38 điều. Dự thảo Luật đã thể chế hóa các chính sách đề xuất xây dựng Luật đã được phê duyệt, quy định trình tự, thủ tục thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam và yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài, trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan trong công tác này.

So với Luật Tương trợ tư pháp hiện hành, dự thảo Luật có nhiều điểm mới nổi bật, cụ thể:

- Mở rộng phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự, theo đó, bổ sung phạm vi cung cấp các giấy tờ, bản án, quyết định của Tòa án có thông tin về hộ tịch; cung cấp thông tin pháp luật trên cơ sở nội luật hóa các điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam là thành viên.

- Giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong Luật Tương trợ tư pháp về dân sự nhằm bảo đảm cách hiểu thống nhất.

- Bổ sung quy định điều kiện để áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định.

- Ứng dụng công nghệ thông tin để cắt giảm thời gian chuyển các yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự, nâng cao hiệu quả thực hiện.

- Mở rộng thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài để giảm tải công việc cho cơ quan nhà nước.

Được áp dụng pháp luật nước ngoài để thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự nhưng với điều kiện chặt chẽ

Một trong những điểm mới đáng lưu ý của dự thảo Luật đó là quy định về áp dụng pháp luật nước ngoài trong tương trợ tư pháp về dân sự.

Điều 4 dự thảo Luật về áp dụng pháp luật nước ngoài quy định:

“1. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tương trợ tư pháp về dân sự được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao và cơ quan khác có liên quan xem xét yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự có đề nghị áp dụng pháp luật nước ngoài.

2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài được xem xét khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị bằng văn bản về việc áp dụng pháp luật của nước đó; b) Việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với nguyên tắc tương trợ tư pháp về dân sự quy định tại Điều 5 của Luật này và hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Căn cứ quy định tại các điểm a và b khoản này và pháp luật có liên quan, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao và cơ quan khác có liên quan xem xét, quyết định việc áp dụng pháp luật nước ngoài.

3. Việc tiếp nhận và xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự có đề nghị áp dụng pháp luật nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này”.

Như vậy, về nguyên tắc, việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài sẽ được thực hiện theo quy định pháp luật của Việt Nam. Quy định tại Điều 4 dự thảo Luật cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự thể hiện thiện chí, sự hợp tác của Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, để bảo đảm chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tư pháp, việc áp dụng pháp luật nước ngoài không đương nhiên mà cần đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật, đồng thời, việc cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài được Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét cẩn trọng.

Về vấn đề này, cũng có một số ý kiến đã cho rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài là vấn đề lớn, chính sách cho áp dụng pháp luật nước ngoài còn đang còn nhiều quan điểm khác nhau nên cần cân nhắc quy định này tại dự thảo Luật. Với tư cách là cơ quan chủ trì xây dựng dự án Luật, Bộ Tư pháp đã có giải thích như sau:

Thứ nhất, Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là luật về thủ tục, hỗ trợ quá trình giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cần yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự. Do đó, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tương trợ tư pháp về dân sự thực chất là áp dụng trình tự, thủ tục thực hiện (cách thức thực hiện) yêu cầu của phía nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài trong những trường hợp cụ thể. Điều này không điều chỉnh việc áp dụng pháp luật về nội dung để giải quyết vụ việc dân sự đó.

Thứ hai, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tương trợ tư pháp về dân sự không phải đương nhiên, Điều 4 dự thảo Luật có quy định chặt chẽ về điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài.

Thứ ba, quy định về áp dụng pháp luật nước ngoài là luật hóa một trong các chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự đã được phê duyệt. Cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài trong các quan hệ pháp luật dân sự không phải là vấn đề mới, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam có quy định về áp dụng pháp luật nước ngoài, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ tư, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài trong tương trợ tư pháp về dân sự, chẳng hạn như Điều 15 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Hàn Quốc, Điều 279 Bộ luật Tố tụng dân sự của Trung Quốc, Điều 11a Luật Tư pháp quốc tế của Thụy Sỹ.

Với những điểm mới của dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, trong đó có quy định về áp dụng pháp luật nước ngoài, Bộ Tư pháp hi vọng sẽ giải quyết được những vướng mắc, bất cập hiện nay trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự, nâng cao hiệu quả của công tác này, từ đó hỗ trợ các cơ quan tư pháp của Việt Nam có đủ cơ sở giải quyết các vụ việc dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan.

Tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật bảo đảm tính khả thi[1]

Tại phiên thảo luận về dự án Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, các ý kiến cơ bản nhất trí với nội dung của dự thảo Luật và dự thảo Báo cáo tiếp thu, giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó, một số ý kiến tiếp tục góp ý hoàn thiện dự thảo Luật để bảo đảm tính khả thi. Cụ thể:

Một là, bổ sung giải thích từ ngữ

Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1) và khái niệm “tương trợ tư pháp về dân sự” (Điều 3), hiện phạm vi chủ yếu giới hạn ở dân sự, kinh doanh, hôn nhân, lao động, nhưng thực tiễn phát sinh nhiều vụ việc phá sản, thi hành án dân sự, trọng tài thương mại, sở hữu trí tuệ - đều mang bản chất dân sự nhưng chưa được xác định rõ, gây khoảng trống pháp lý. Việt Nam đã tham gia Công ước New York 1958, Công ước La Hay 2019, nên cần mở rộng để phù hợp hội nhập. Theo đó, đại biểu đề nghị bổ sung khoản mới tại Điều 1: “Luật này điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự bao gồm cả các vụ việc phá sản, thi hành án dân sự, công nhận và cho thi hành bản án, phán quyết trọng tài nước ngoài, các yêu cầu cung cấp thông tin pháp luật và chứng cứ trong lĩnh vực thương mại, đầu tư quốc tế”.

Đồng thời, đại biểu đề nghị bổ sung giải thích từ ngữ tại Điều 3 dự thảo Luật: “Cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp về dân sự là Bộ Tư pháp; Cơ quan lập yêu cầu là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự ở Việt Nam; Cơ quan thực hiện yêu cầu là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và thực thi yêu cầu tương trợ từ nước ngoài”.

Liên quan đến giải thích cụm từ “tương trợ tư pháp về dân sự”, tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật quy định: “1. Tương trợ tư pháp về dân sự là việc hợp tác, hỗ trợ giữa cơ quan, người có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động quy định tại Điều 7 của Luật này nhằm mục đích giải quyết vụ việc dân sự, vụ việc phá sản, việc thi hành án dân sự”. Như vậy, vụ việc cạnh tranh thuộc mối quan hệ về kinh tế nên thuộc lĩnh vực pháp luật dân sự, do đó cần được điều chỉnh bằng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Do đó, để tránh khoảng trống pháp luật, đại biểu đề nghị tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật bổ sung thêm cụm từ “vụ việc canh tranh” trước cụm từ “việc thi hành án dân sự”.

Hai là, bổ sung nguyên tắc “có đi có lại” vào quy định tại Điều 5 dự thảo Luật.

Về nguyên tắc tương trợ tư pháp về dân sự tại Điều 5 dự thảo Luật đã kế thừa nguyên tắc cơ bản nhưng chưa quy định rõ về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, quyền nhân thân, phụ nữ, trẻ em theo Hiến pháp năm 2013 và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ. Các hoạt động thường liên quan đến thông tin cá nhân như hộ tịch, tài sản, thừa kế…, nếu thiếu thì dễ vi phạm quyền con người. Các nước EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đều coi đây là nguyên tắc bắt buộc. Do đó, đại biểu kiến nghị bổ sung khoản 3 Điều 5 của dự thảo Luật: “Hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự phải bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân; đặc biệt chú trọng bảo vệ phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm yếu thế khác”. Về kiến nghị này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng, trong dự thảo Luật đã tiếp thu, quy định khái quát về các nguyên tắc tương trợ tư pháp là bảo đảm nguyên tắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng như đảm bảo phù hợp với quy định của Hiến pháp và các điều quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

Đồng thời, đại biểu đề nghị cân nhắc, bổ sung nguyên tắc “có đi có lại” vào quy định tại Điều 5 dự thảo Luật. Nguyên tắc “có đi có lại” từng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, nhưng tại dự thảo Luật không ghi nhận nguyên tắc này. Nguyên tắc “có đi có lại” là nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quan hệ quốc tế, được đa số các quốc gia trên thế giới công nhận cũng như được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế hiện nay. Nguyên tắc này bảo đảm cho các quốc gia chưa ký kết các điều ước quốc tế với nhau vẫn có thể hợp tác với nhau trên các lĩnh vực trên cơ sở có đi có lại. Theo Tờ trình của Chính phủ thì Việt Nam đã ký kết 18 hiệp định/thỏa thuận tương trợ tư pháp về dân sự song phương với các quốc gia/vùng lãnh thổ và gia nhập 02 Điều ước quốc tế đa phương (Công ước tống đạt với 84 thành viên; Công ước thu thập chứng cứ với 66 thành viên). Trong điều kiện nước ta mới chỉ ký kết song phương với hơn 18 quốc gia/vùng lãnh thổ Hiệp định tương trợ tư pháp nêu trên, để bảo đảm hoạt động tương trợ tư pháp có cơ sở pháp lý, linh hoạt đối với các quốc gia mà nước ta chưa ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, đề nghị tiếp tục ghi nhận việc áp dụng nguyên tắc này tại dự thảo Luật.

Bên cạnh đó, tại dự thảo Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu: “Dự thảo Luật không quy định trực tiếp nguyên tắc “có đi có lại” trong tương trợ tư pháp về dân sự, mà tiếp cận linh hoạt hơn bằng việc bổ sung quy định về trường hợp yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài có thể bị từ chối khi có căn cứ cho rằng phía nước ngoài không hợp tác thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam (điểm a khoản 2 Điều 27). Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định việc áp dụng linh hoạt nguyên tắc “có đi có lại” trong thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự với nước ngoài, bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này”. Mặc dù nhất trí với nội dung này, tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần luật hoá nguyên tắc này ở Điều 5 dự thảo Luật, từ đó mới có cơ sở để áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 dự thảo Luật như Báo cáo đã đề cập.

Ba là, làm rõ các quy định để đảm bảo tính khả thi.

Liên quan đến miễn hợp pháp hóa lãnh sự tại Điều 8 dự thảo Luật quy định miễn hợp pháp hóa lãnh sự đối với hồ sơ có chữ ký, con dấu cơ quan nước ngoài như Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu, tuy nhiên, chưa rõ trường hợp hồ sơ điện tử với chữ ký số được quy định như thế nào. Trong chuyển đổi số, Nhật Bản, Singapore, EU đã công nhận chữ ký điện tử trong tương trợ dân sự; nếu không mở rộng, Việt Nam sẽ gặp trở ngại giao dịch quốc tế. Vì vậy, đại biểu kiến nghị bổ sung đoạn sau vào khoản 1 Điều 8: “Hồ sơ, tài liệu tương trợ tư pháp được lập dưới dạng điện tử, có chữ ký số hoặc xác thực điện tử của cơ quan, người có thẩm quyền nước ngoài cũng được xem là hợp lệ và được miễn hợp pháp hóa lãnh sự”. Về vấn đề này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng, quy định miễn hợp pháp hóa lãnh sự đối với hồ sơ có thể là bản giấy, bản điện tử và tùy từng trường hợp là bản giấy hay bản điện tử để áp dụng quy định về miễn hợp pháp hóa lãnh sự. Chữ ký số nếu là chữ ký của cơ quan người có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp cũng được miễn hợp pháp hóa lãnh sự.

Liên quan đến các điều 25, 34 của dự thảo Luật đã bổ sung quy định cho phép cơ quan tố tụng hai bên có thể lấy lời khai trực tuyến. Đây là các quy định cần thiết, phản ánh đúng yêu cầu phát triển thực tiễn và ứng dụng công nghệ trong tư pháp. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thêm một số điểm trong trường hợp hai nước chưa có Hiệp định song phương thì có thực hiện được nội dung này hay không? Hoặc cần xác định rõ giá trị pháp lý của lời khai qua video, lời khai dạng này được chấp nhận như thế nào, có giá trị tương đương với lời khai trực tuyến hay chỉ là một chứng cứ hỗ trợ, bổ trợ cho hoạt động lấy lời khai trực tuyến. Những nội dung này cần làm rõ hơn để giúp cho việc triển khai thi hành Luật trong thực tiễn không bị vướng mắc và bảo đảm tính khả thi.

(Ảnh: Quochoi.vn)


  1. Nguồn: https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=96383.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: