Thứ ba 03/03/2026 13:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chính sách, pháp luật thu hút chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự cần thiết phải thu hút và trọng dụng chuyên gia, trí thức, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia pháp luật Việt Nam ở nước ngoài, nhằm tạo đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện cho thấy chính sách thu hút chuyên gia pháp luật ở nước ngoài của Việt Nam chưa hiệu quả, chưa khai thác được tiềm năng khoa học, trí thức của kiều bào. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá, gồm hoàn thiện cơ chế pháp lý, thiết lập tiêu chí, tiêu chuẩn lựa chọn, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút và phát huy tối đa vai trò của lực lượng này phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.

Từ khóa: người Việt Nam ở nước ngoài; chuyên gia pháp luật; đổi mới sáng tạo; xây dựng và thi hành pháp luật.

Abstract: The article analyzes the need to attract and utilize experts and intellectuals, especially Vietnamese legal experts abroad, in order to create a breakthrough in building and developing the country. Based on the analysis and evaluation of a number of legal regulations and implementation practices, it is shown that Vietnam's current policy to attract legal experts abroad is not effective and has not exploited the scientific and intellectual potential of overseas Vietnamese. From there, the study proposes a number of breakthrough solutions, including completing the legal mechanism, establishing selection criteria and standards, and issuing appropriate incentive policies to attract and maximize the role of this force in serving the construction and development of the country.

Keywords: Vietnamese people abroad; legal experts; creative innovation; law making and implementation.

Đặt vấn đề

Trí thức Việt Nam ở nước ngoài là lực lượng quan trọng không tách rời với dân tộc và đất nước. Theo ước tính của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, số lượng người có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng hơn 10% trong tổng số 06 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, tương đương khoảng 600.000 người, gồm hai bộ phận là trí thức từ trong nước ra nước ngoài học tập, làm việc và trí thức là con em thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư của người Việt ở nước ngoài, đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, trên 80% là ở các nước phát triển[1].

Trong lĩnh vực pháp luật, đa số chuyên gia pháp lý người Việt Nam ở nước ngoài, được đào tạo bài bản tại các trường luật danh tiếng trên thế giới, có kiến thức chuyên sâu về pháp luật quốc tế, kinh nghiệm làm việc trong môi trường đa văn hóa và khả năng ngoại ngữ vượt trội[2], đóng vai trò là cầu nối quan trọng trong chuyển giao tri thức pháp lý hiện đại, góp phần thiết thực vào tiến trình cải cách, hoàn thiện thể chế ở Việt Nam. Đội ngũ này có thể đóng góp trực tiếp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp quốc tế và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý. Bên cạnh đó, lực lượng này còn giữ vai trò kết nối, chuyển giao tri thức giữa các cơ quan, tổ chức pháp luật trong nước với các đối tác quốc tế, giúp Việt Nam tiếp cận hiệu quả hơn với kiến thức, kinh nghiệm và thông lệ pháp lý tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, hiện, các cơ chế, chính sách của Việt Nam chưa khai thác hiệu quả tiềm năng trí thức của kiều bào. Do đó, cần xây dựng cơ chế, chính sách đột phá, xác định tiêu chí lựa chọn để khuyến khích, trọng dụng những cá nhân xuất sắc nhằm thu hút đội ngũ này phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.

1. Chủ trương, chính sách, pháp luật Việt Nam về thu hút chuyên gia pháp luật người Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy, tư vấn và nghiên cứu pháp luật

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, Việt Nam ngày càng ký kết, tham gia nhiều vào điều ước và tổ chức quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại, đầu tư xuyên biên giới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý, tư pháp quốc tế phức tạp và đa dạng. Để giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra, cần huy động và phát huy tối đa các nguồn lực trong nước, đồng thời, tranh thủ sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật vững mạnh, minh bạch, tận dụng hiệu quả, linh hoạt các lợi thế từ cam kết của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên[3] được xem là công cụ chiến lược nhằm định hình quyền lực mềm, qua đó, nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, việc thu hút nguồn nhân lực chiến lược, đặc biệt là các chuyên gia pháp luật người Việt ở nước ngoài cần được coi là định hướng dài hạn của Việt Nam.

Chính vì vậy, thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để thu hút, trọng dụng, đãi ngộ người Việt ở nước ngoài tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết về công tác đối với người Việt ở nước ngoài, về công tác ngoại giao xây dựng đội ngũ trí thức, phát triển kinh tế…, trong đó có nội dung về phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, coi đây là các nhiệm vụ, giải pháp đột phá để phát triển đất nước; xây dựng, thi hành pháp luật cũng như phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số[4]. Đặc biệt, để hiện thực hóa nhiệm vụ trọng tâm trên cũng như mục tiêu chung về hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị đã thông qua hai nghị quyết quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong quá trình vươn mình của dân tộc[5]. Các nhiệm vụ, giải pháp tại hai nghị quyết này đều gắn chặt với nội dung phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, coi đây là các nhiệm vụ, giải pháp đột phá để thực hiện bước chuyển mình quan trọng của đất nước trong lĩnh vực xây dựng và thi hành pháp luật[6] cũng như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số[7].

Thứ hai, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật để thu hút trọng dụng, đãi ngộ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước như: Nghị quyết của Quốc hội[8]; Luật Quốc tịch và các văn bản quy phạm pháp luật khác[9]; các đề án[10]…

2. Thực trạng công tác thu hút chuyên gia pháp luật người Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy, tư vấn và nghiên cứu pháp luật tại Việt Nam

2.1. Một số kết quả đạt được

Thứ nhất, nhiều chuyên gia pháp lý người Việt ở nước ngoài đã đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật tại Việt Nam thông qua hoạt động tư vấn độc lập, phản biện chính sách và hỗ trợ kỹ thuật. Ví dụ: thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và đối tác nước ngoài, các chuyên gia đã chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Căn cước…[11], từ đó, nâng cao chất lượng lập pháp. Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, hội nghị lấy ý kiến trực tiếp và trực tuyến (do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức) với sự tham gia của cộng đồng kiều bào tại 20 điểm cầu trên toàn cầu đã góp phần tháo gỡ nhiều vướng mắc về quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất của người gốc Việt và phản ánh các khó khăn liên quan đến thủ tục căn cước[12].

Thứ hai, nhiều chuyên gia pháp lý gốc Việt đã tham gia vào quá trình chuyển giao tri thức, xây dựng giáo trình và phương pháp đào tạo hiện đại, góp phần chuẩn hóa chương trình đào tạo luật theo hướng hội nhập quốc tế[13]. Ví dụ: một số cơ sở giáo dục ở phía Bắc như Trường Đại học Luật Hà Nội; Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội… đã và đang tổ chức các hoạt động khoa học nhằm thu hút sự tham gia của chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài[14].

Ngoài ra, trong bối cảnh các tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan đến Việt Nam ngày càng gia tăng, các chuyên gia pháp lý gốc Việt có kinh nghiệm quốc tế còn đảm nhận vai trò đại diện hoặc cố vấn pháp lý cho Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong nước, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên cơ sở pháp luật quốc tế[15].

2.2. Một số khó khăn, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai các cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng trí thức kiều bào của Việt Nam còn nhiều bất cập; chưa tạo được bước đột phá về số lượng và chất lượng; chính sách vĩ mô chưa được thực thi hiệu quả trên thực tế; số chuyên gia, nhà khoa học người Việt ở nước ngoài được hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi trong nước chưa nhiều[16]. Nhìn chung, công tác huy động nguồn lực người Việt ở nước ngoài thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của người Việt Nam ở nước ngoài[17]. Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng trên, trong đó có một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, khung khổ pháp lý riêng điều chỉnh và thúc đẩy việc thu hút chuyên gia pháp luật là người Việt Nam ở nước ngoài chưa được hình thành đồng bộ, thống nhất mà được quy định trong nhiều văn bản gây khó khăn cho việc áp dụng. Hoạt động tiếp nhận và hợp tác với đội ngũ chuyên gia pháp luật là người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu lồng ghép trong các chính sách chung dành cho trí thức kiều bào hoặc chuyên gia quốc tế. Các chính sách này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giáo dục, khoa học - công nghệ, trong khi thiếu những quy định riêng đáp ứng đặc thù của lĩnh vực pháp lý như tiêu chuẩn hành nghề, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, công nhận bằng cấp, hay yêu cầu về kỹ năng chuyên môn phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước[18]. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa định nghĩa rõ về “chuyên gia pháp luật” dẫn đến khó khăn trong việc xác định đối tượng, thiết kế cơ chế tiếp nhận và triển khai hợp tác. Nhiều cơ quan buộc phải áp dụng các khái niệm chung như “chuyên gia nước ngoài” hoặc “chuyên gia mời theo dự án”, làm giảm tính chính danh và hạn chế tính bền vững của hợp tác lâu dài với chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài[19].

Thứ hai, việc công nhận bằng cấp nước ngoài; thực hiện các thủ tục liên quan đến cư trú, xuất nhập cảnh, lao động và các quy định về chính sách thuế, bảo hiểm xã hội còn một số khó khăn nhất định. Quy định về công nhận văn bằng nước ngoài trong lĩnh vực luật học, hiện chưa có hướng dẫn riêng cho đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài. Một số ngành như y tế, công nghệ, kỹ thuật đã áp dụng cơ chế linh hoạt, thí điểm công nhận song bằng, chuyển đổi nhanh, trong khi đó, lĩnh vực pháp lý vẫn duy trì điều kiện nghiêm ngặt, chưa phù hợp với đặc thù đào tạo và hành nghề tại các nước phát triển. Thực trạng này đã hạn chế cơ hội tham gia của chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài vào xây dựng, hoàn thiện thể chế và thi hành pháp luật trong nước[20]. Đồng thời, nhiều quy định pháp luật trong lĩnh vực cư trú, xuất nhập cảnh, lao động, thuế và an sinh xã hội chưa thống nhất, chưa có quy định đặc thù cho đối tượng là chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài. Trên thực tế, một số chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài có quốc tịch nước ngoài gặp khó khăn trong việc được cấp thị thực dài hạn hoặc giấy phép lao động tại các cơ quan, đơn vị công lập dẫn đến không đủ điều kiện để ký kết hợp đồng lao động có thời hạn dài hoặc được bổ nhiệm vào các chức danh, vị trí pháp lý chính thức[21]. Trong lĩnh vực thuế, do Việt Nam chưa ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhiều quốc gia nên một số chuyên gia pháp luật là người Việt ở nước ngoài phải nộp thuế ở cả Việt Nam và nước cư trú, dẫn đến gánh nặng thuế kép và giảm động lực hợp tác[22]. Hệ thống bảo hiểm xã hội và y tế chưa có cơ chế riêng cho chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài làm việc ngắn hạn, bán thời gian hoặc theo dự án, làm cho họ không được hưởng đầy đủ chế độ an sinh và hợp tác thường mang tính thời vụ, thiếu ổn định[23].

Thứ ba, Việt Nam chưa hình thành cơ quan đầu mối và hệ thống cơ sở dữ liệu về chuyên gia là người Việt ở nước ngoài. Việc kết nối đội ngũ chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu do nhu cầu và đang phân tán giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng chưa có cơ quan đầu mối chính thức để điều phối, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả[24].

Đồng thời, Việt Nam chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia đầy đủ, cập nhật thường xuyên về đội ngũ này; thông tin chủ yếu dựa trên thống kê từ các cơ quan ngoại giao, thiếu nền tảng số phục vụ việc tra cứu, sàng lọc và mời gọi theo chuyên môn, địa bàn hoặc nhu cầu cụ thể. Hệ thống dữ liệu không chỉ cho phép cập nhật hồ sơ cá nhân và chia sẻ thông tin về nhu cầu trong nước, mà còn có thể đóng vai trò diễn đàn gắn kết tri thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Trong bối cảnh đội ngũ trí thức kiều bào đông nhưng phân tán, việc xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện sẽ tạo nền tảng quan trọng để huy động hiệu quả nguồn lực, đặc biệt, trong các lĩnh vực công nghệ cao và giải quyết tranh chấp quốc tế. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương còn thiếu tính đồng bộ. Nhiều địa phương chưa xác định rõ nhu cầu cụ thể, đồng thời, còn hạn chế về thông tin đối với đội ngũ chuyên gia và doanh nhân kiều bào, dẫn đến việc chưa chủ động kết nối và khai thác hiệu quả nguồn lực này.

Do đó, dù nhiều chuyên gia sẵn sàng hợp tác nhưng thiếu thông tin hoặc đầu mối kết nối, trong khi các bộ, ngành, địa phương phải khởi động từ đầu mỗi khi cần mời chuyên gia, dẫn đến lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả hợp tác[25].

Thứ tư, việc thực hiện các cơ chế, chính sách và quy định nhằm thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào trên thực tế chưa đạt hiệu quả. Các chính sách còn thiên về “trọng đãi” hơn là “trọng dụng”, trong đó, nhiều ưu đãi không phù hợp hoặc thiếu tính khả thi.

Để chủ trương này đi vào thực tiễn, cần làm rõ một số vấn đề trọng tâm như: xác định đối tượng tuyển chọn, chuyên ngành ưu tiên, sản phẩm đầu ra kỳ vọng, mô hình quản lý cũng như năng lực của cơ quan trực tiếp sử dụng chuyên gia. Bên cạnh đó, hiện chưa có cơ chế thống nhất giữa các cơ quan trung ương và địa phương trong việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến, khuyến nghị của đội ngũ chuyên gia. Thực tiễn cho thấy, đã có nhiều trường hợp chuyên gia kiều bào gặp khó khăn khi chia sẻ sáng kiến hoặc đề xuất chính sách với các bộ, ngành, địa phương, qua đó cho thấy, sự cần thiết phải xây dựng một cơ chế chung, thống nhất và đồng bộ.

3. Một số kiến nghị, giải pháp

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Chính sách cần chú trọng đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của kiều bào; đồng thời, có cơ chế động viên, khen thưởng và vinh danh những cá nhân có đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế quốc gia. Bên cạnh đó, việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phải được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tiễn từng giai đoạn phát triển đất nước.

Thứ hai, tiếp tục triển khai có hiệu quả các nghị quyết của Đảng[26] về chủ trương, chính sách liên quan đến công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, bảo đảm thực thi hiệu quả các chính sách, pháp luật về thu hút chuyên gia pháp luật là người Việt Nam ở nước ngoài. Việt Nam cần xây dựng cơ chế thống nhất, đầy đủ và toàn diện để khắc phục tình trạng hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên gia pháp luật là người gốc Việt tham gia giảng dạy, tư vấn và nghiên cứu tại Việt Nam.

Thư tư, ban hành một chiến lược chuyên biệt nhằm thu hút luật sư, chuyên gia và giảng viên luật là người Việt Nam ở nước ngoài, gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW và chiến lược phát triển nhân lực ngành luật. Chiến lược này cần nhấn mạnh cả hai hình thức đóng góp: trực tiếp tại Việt Nam và gián tiếp từ xa; đồng thời, tiếp tục sửa đổi pháp luật để tháo gỡ các rào cản cho kiều bào, như sửa đổi Luật Quốc tịch năm 2008 theo hướng giảm bớt điều kiện cho người có nguyện vọng nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam.

Thứ năm, ban hành văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt trong ngành tư pháp để hướng dẫn việc mời gọi, tuyển dụng và hợp tác với chuyên gia pháp luật là người Việt Nam ở nước ngoài. Văn bản này phải quy định rõ tiêu chí tuyển chọn, quy trình thực hiện, chế độ đãi ngộ, bao gồm thị thực, thuế, tiền lương, nhà ở, miễn giấy phép lao động ngắn hạn…, đồng thời, xác định quyền và nghĩa vụ của chuyên gia cũng như trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận. Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, trong đó, Bộ Tư pháp giữ vai trò đầu mối, kết nối Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan liên quan; đồng thời, duy trì kênh thông tin để tiếp nhận và xử lý kiến nghị, đề xuất của đội ngũ chuyên gia kiều bào. Việc xây dựng hành lang pháp lý minh bạch và cơ chế phối hợp thống nhất góp phần nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực pháp luật, đồng thời, khắc phục tình trạng “e ngại” thủ tục hoặc “khoảng trống” pháp lý.

Thứ sáu, hoàn thiện hình thức thu hút hợp tác. Cần xây dựng cơ chế kiêm nhiệm linh hoạt để chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp mà không nhất thiết phải làm việc dài hạn tại Việt Nam. Cụ thể:

- Triển khai mô hình giảng viên thỉnh giảng không cư trú, mời chuyên gia luật kiều bào giảng dạy ngắn hạn hoặc trực tuyến tại các trường đại học, học viện đào tạo luật. Cách tiếp cận này bổ sung nguồn giảng viên chất lượng cao có kinh nghiệm quốc tế mà không yêu cầu kiều bào từ bỏ công việc ở nước ngoài.

- Phát huy vai trò phản biện và góp ý chính sách thông qua việc thực hiện hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 về phản biện xã hội. Theo đó, có thể mời luật gia, luật sư kiều bào tham gia góp ý các dự thảo luật, chính sách quan trọng với tư cách chuyên gia độc lập hoặc thành lập nhóm cố vấn pháp lý kiều bào trực thuộc Ban soạn thảo.

- Áp dụng cơ chế cố vấn theo dự án, bố trí chuyên gia kiều bào tham gia ngắn hạn trong các đề án cải cách tư pháp, hiện đại hóa Tòa án, tương trợ tư pháp quốc tế. Mô hình này vận hành theo cơ chế “đặt hàng” chuyên môn gắn với mục tiêu từng dự án, kết hợp hình thức làm việc trực tiếp và trực tuyến để bảo đảm tính linh hoạt.

Để các cơ chế trên đi vào thực tiễn, cần xây dựng hạ tầng làm việc từ xa, quỹ thù lao tương xứng, cơ chế ghi nhận và vinh danh đóng góp, cùng thái độ trân trọng và tin tưởng đối với đội ngũ chuyên gia là người Việt ở nước ngoài.

Thứ bảy, xây dựng cơ sở dữ liệu và mạng lưới chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu số mở về chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài quản lý. Cơ sở dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên về chuyên môn, kinh nghiệm và vị trí công tác của chuyên gia; đồng thời, công khai có chọn lọc cho các cơ sở đào tạo luật, viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp trong nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Cách tiếp cận này bảo đảm kết nối hai chiều: các cơ quan trong nước chủ động tìm kiếm, mời hợp tác; trong khi chuyên gia kiều bào nắm bắt kịp thời nhu cầu và cơ hội đóng góp. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai các chương trình kết nối chuyên sâu.

- Tổ chức Diễn đàn Pháp lý Việt Nam toàn cầu định kỳ (hằng năm hoặc hai năm một lần) tại Việt Nam hoặc tại các trung tâm tập trung nhiều chuyên gia luật là người Việt ở nước ngoài. Diễn đàn là kênh đối thoại chính sách, chia sẻ chuyên môn và đề xuất giải pháp cải cách pháp luật giữa trí thức pháp lý kiều bào và các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nước. Cơ chế này tạo “bệ phóng” để sáng kiến cải cách pháp luật, đổi mới tư pháp và đào tạo luật tiếp cận trực tiếp các cơ quan hoạch định chính sách, qua đó, nâng cao hiệu quả đóng góp của đội ngũ chuyên gia pháp luật người Việt Nam ở nước ngoài.

Kết luận

Việc thu hút và trọng dụng người tài, chuyên gia là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo đột phá trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện chủ trương của Đảng, thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các hoạt động giảng dạy, tư vấn và nghiên cứu pháp luật tại Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình triển khai các cơ chế, chính sách còn tồn tại một số hạn chế nhất định, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng trí thức của cộng đồng kiều bào. Để phát huy vai trò của lực lượng này, cần có cơ chế đột phá để thu hút, đồng thời, xác định rõ tiêu chí lựa chọn, xây dựng tiêu chuẩn, quy định sàng lọc để lựa chọn được những cá nhân xuất sắc nhất. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách cần gắn với định hướng của Đảng được thể hiện trong Chỉ thị số 45-NQ/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới./.

NCS. ThS. Đào Quý Lộc

Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

[1]. Số liệu ước tính của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao (Bích Diệp (2025), Thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1046902/thu-hut-tri-thuc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai--cho-phat-trien-nguon-nhan-luc-khoa-hoc--cong-nghe.aspx, truy cập ngày 10/5/2025.

[2]. Hoàng Quý, Thảo Nguyên (2025), Thu hút chuyên gia pháp lý là người Việt Nam ở nước ngoài về cống hiến: Cần có những chính sách đặc thù đủ hấp dẫn, https://baophapluat.vn/thu-hut-chuyen-gia-phap-ly-la-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-ve-cong-hien-can-co-nhung-chinh-sach-dac-thu-du-hap-dan.html, ngày truy cập 17/7/2025.

[3]. Mục III.4 Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[4]. Có thể kể đến các nghị quyết sau: Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết số 36/NQ-TW); Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008); Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Chỉ thị số 45-CT/TW); Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, XIII của Đảng; Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác của người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Kết luận số 12-KL/TW); Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021 - 2026; Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030 và Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 20/3/2023 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn 2022 - 2026 thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030; Mục III.4 Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[5]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).

[6]. Mục III. 4 Nghị quyết số 66-NQ/TW yêu cầu cần mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp; xây dựng, phát triển mạng lưới chuyên gia pháp lý nước ngoài, gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ nghiên cứu, tư vấn các vấn đề mới trong phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, cần phải thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật. Thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi vào khu vực công.

[7]. Mục III.4 Nghị quyết số 57/NQ-TW đề cập tới các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[8]. Ngày 17/5/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Nghị quyết này tập trung vào các cơ chế, chính sách đặc biệt để tạo đột phá trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có các quy định về chế độ, chính sách đối với người tham gia công tác xây dựng pháp luật, gồm cả việc hỗ trợ tài chính và miễn thuế thu nhập. Mặc dù, không trực tiếp quy định về việc thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài nhưng thông qua việc cải thiện môi trường làm việc và đãi ngộ, Nghị quyết số 197/2025/QH15 gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài quay trở về nước làm việc trong lĩnh vực xây dựng pháp luật.

[9]. Luật Quốc tịch năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Quốc tịch năm 2008), Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014 của Chính phủ về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam; Nghị định số 92/2025/NĐ-CP ngày 25/4/2025 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với chuyên gia cao cấp và Luật Thủ đô năm 2024. Việc ban hành các quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những cá nhân xuất sắc gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, có thể tham gia đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

[10]. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 31/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu chung của Chiến lược là xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chính sách, giải pháp mạnh, đột phá để thu hút và trọng dụng nhân tài (trong và ngoài nước) đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, đặc biệt, trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn như: khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo; văn hóa; khoa học xã hội; y tế; thông tin và truyền thông, chuyển đổi số...; Quyết định số 1334/QĐ-TTg ngày 10/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới”. Đề án đưa ra một số giải pháp cụ thể, như: rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp luật tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài yên tâm quay trở về đất nước đầu tư, kinh doanh; xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương về triển khai thu hút, phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài; thu hút chuyên gia, trí thức, nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài và lao động người Việt trở về nước; có các chính sách, biện pháp cụ thể phát huy nguồn lực “mềm” của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 19/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo đến năm 2030”.

[11]. OECD (2023), Rule of Law and Anti-Corruption in Viet Nam: A Path to Justice, https://www.oecd.org/ countries/vietnam/rule-of-law-and-anti-corruption-in-viet-nam.pdf, truy cập ngày 04/7/2025.

[12]. Báo Chính phủ (2023), Kiều bào đóng góp ý kiến đối với dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, https://baochinhphu.vn/kieu-bao-dong-gop-y-kien-doi-voi-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-102230302201010305.htm, truy cập ngày 04/7/2025.

[13]. Trần Thị Thu Hằng (2021), Đào tạo luật theo chuẩn quốc tế: Cơ hội và thách thức tại Việt Nam, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 6, tr. 55 - 60.

[14]. GS. Nguyễn Xuân Thảo, Giám đốc Trung tâm Luật châu Á, Đại học Washington, Hoa Kỳ là một trong những chuyên gia pháp luật đã có khá nhiều hoạt động giảng dạy, tư vấn, nghiên cứu tại Việt Nam thời gian qua.

[15]. Nguyễn Hữu Tuấn (2023), Tranh chấp đầu tư quốc tế và vai trò của chuyên gia Việt kiều, Tạp chí Pháp lý, số 3, tr. 40 - 45.

[16]. Ninh Cơ (2023), Phát huy nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, https://nhandan.vn/phat-huy-nguon-luc-tri-thuc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-post763912.html, truy cập ngày 10/6/2025.

[17]. Ngô Hướng Nam và Cộng sự (2023), Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/866502/phat-huy-hieu-qua-nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-nham-thuc-hien-cac-muc-tieu-phat-trien-dat-nuoc-den-nam-2030-theo-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#, truy cập ngày 04/7/2025.

[18]. Trần Văn Hạnh (2022), Khung pháp lý và cơ hội hợp tác với chuyên gia Việt kiều trong lĩnh vực tư pháp, Tạp chí Luật học, số 10, tr. 21 - 27.

[19]. Lê Xuân Rao (2023), Thu hút, trọng dụng, phát huy vai trò của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/144542/6/Thu-hut-trong-dung-phat-huy-vai-tro-cua-tri-thuc-nguoi-Viet-Nam-o-nuoc-ngoai.html, truy cập ngày 04/7/2025.

[20]. Trần Huỳnh (2024), Nhiều vướng mắc trong công nhận văn bằng chương trình liên kết đào tạonước ngoài, https://tuoitre.vn/nhieu-vuong-mac-trong-cong-nhan-van-bang-chuong-trinh-lien-ket-dao-tao-nuoc-ngoai-20241007102440231.htm, truy cập ngày 04/7/2025.

[21]. Nguyễn Thị Lan (2022), Chính sách visa và giấy phép lao động cho chuyên gia Việt kiều: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nhân lực và Pháp luật, số 7, tr. 40 - 45.

[22]. Nguyễn Thu Hà (2023), Chính sách thuế và đãi ngộ đối với chuyên gia nước ngoài: Khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 4, tr. 34 - 39.

[23]. Nguyễn Thị Lan (2022), tlđd, tr. 46 - 51.

[24]. Lê Thọ Bình (2024), Cần tháo gỡ “điểm nghẽn” trong trọng dụng nhân tài, https://m.viettimes.vn/can-thao-go-diem-nghen-trong-trong-dung-nhan-tai-post179713.amp.

[25]. Nguyễn Văn Bình (2023), Kinh nghiệm lập pháp quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr. 3 - 9.

[26]. Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008, Chỉ thị số 45-CT/TW, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Kết luận số 12-KL/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo Chính phủ (2023), Kiều bào đóng góp ý kiến đối với dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, https://baochinhphu.vn/kieu-bao-dong-gop-y-kien-doi-voi-du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-102230302201010305. htm, truy cập ngày 04/7/2025.

2. Bích Diệp (2025), Thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1046902/thu-hut-tri-thuc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-cho-phat-trien-nguon-nhan-luc-khoa-hoc—cong-nghe.aspx, truy cập ngày 10/5/2025.

3. Hoàng Quý, Thảo Nguyên (2025), Thu hút chuyên gia pháp lý là người Việt Nam ở nước ngoài về cống hiến: Cần có những chính sách đặc thù đủ hấp dẫn, https://baophapluat.vn/thu-hut-chuyen-gia-phap-ly-la-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-ve-cong-hien-can-co-nhung-chinh-sach-dac-thu-du-hap-dan.html, truy cập ngày 17/7/2025.

4. Lê Thọ Bình (2024), Cần tháo gỡ “điểm nghẽn” trong trọng dụng nhân tài, https://m.viettimes.vn/can-thao-go-diem-nghen-trong-trong-dung-nhan-tai-post179713.amp, truy cập ngày 17/7/2025.

5. Lê Xuân Rao (2023), Thu hút, trọng dụng, phát huy vai trò của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/144542/6/Thu-hut-trong-dung-phat-huy-vai-tro-cua-tri-thuc-nguoi-Viet-Nam-o-nuoc-ngoai.html, truy cập ngày 17/7/2025.

6. Ngô Hướng Nam và Cộng sự (2023), Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/866502/phat-huy-hieu-qua-nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-nham-thuc-hien-cac-muc-tieu-phat-trien-dat-nuoc-den-nam-2030-theo-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx, truy cập ngày 17/7/2025.

7. Nguyễn Hữu Tuấn (2023), Tranh chấp đầu tư quốc tế và vai trò của chuyên gia Việt kiều, Tạp chí Pháp lý, số 3.

8. Nguyễn Thị Lan (2022), Chính sách visa và giấy phép lao động cho chuyên gia Việt kiều: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nhân lực và Pháp luật, số 7.

9. Nguyễn Thu Hà (2023), Chính sách thuế và đãi ngộ đối với chuyên gia nước ngoài: Khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 4.

10. Nguyễn Văn Bình (2023), Kinh nghiệm lập pháp quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.

11. Ninh Cơ (2023), Phát huy nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, https://nhandan.vn/phat-huy-nguon-luc-tri-thuc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-post763912. html, ngày 25/7/2023, truy cập ngày 10/6/2025.

12. OECD (2023), Rule of Law and AntiCorruption in Viet Nam: A Path to Justice, https://www.oecd.org/countries/vietnam/rule-of-law-and-anti-corruption-in-viet-nam.pdf, truy cập ngày 17/7/2025.

13. Trần Huỳnh (2024), Nhiều vướng mắc trong công nhận văn bằng chương trình liên kết đào tạo nước ngoài, https://tuoitre.vn/nhieu-vuong-mac-trong-cong-nhan-van-bang-chuong-trinh-lien-ket-dao-tao-nuoc-ngoai-20241007102440231.htm, truy cập ngày 17/7/2025.

14. Trần Thị Thu Hằng (2021), Đào tạo luật theo chuẩn quốc tế: Cơ hội và thách thức tại Việt Nam, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 6.

15. Trần Văn Hạnh (2022), Khung pháp lý và cơ hội hợp tác với chuyên gia Việt kiều trong lĩnh vực tư pháp, Tạp chí Luật học, số 10.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (437) tháng 9/2025))

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: